Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

BÌNH DƯƠNG : ĐẠI GIA TỐ CÁO CHỦ TỊCH TỈNH !

Sốc: Đại gia Huỳnh Uy Dũng tố cáo Chủ tịch tỉnh Bình Dương

Vì sao Chủ tịch tỉnh bị tố cáo?
Theo đơn tố cáo của ông Huỳnh Uy Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình trước HĐND tỉnh và cấp trên. Theo đó, năm 2004 tỉnh Bình Dương đối mặt với món nợ Bộ Tài chính 1.000 tỷ đồng đến hạn phải trả.
"Theo đề nghị và khuyến khích của lãnh đạo tỉnh lúc bấy giờ, tôi đã phải huy động nhiều nguồn tiền vay ngân hàng để đầu tư mua lại khu đất của tỉnh trong Khu liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương, thời điểm đó là một khoản tiền rất lớn.
Ban đầu, mọi việc diễn ra nhanh chóng như kêu gọi của tỉnh. Tuy nhiên, từ ngày ông Lê Thanh Cung (Bí thư huyện Thuận An) về làm Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Dương kiêm Trưởng Ban quản lý KCN Việt Nam - Singapore thì Công ty cổ phần Đại Nam liên tục bị gây khó khăn" - ông Huỳnh Uy Dũng tố cáo.
Từ ngày chủ đầu tư KCN Sóng Thần trình bản quy hoạch chi tiết 1/500 của KCN Sóng Thần 3 để các cơ quan thẩm quyền xem xét phê duyệt đến nay là quãng thời gian 7 năm nhưng UBND tỉnh Bình Dương vẫn không phê duyệt dù chủ đầu tư đã đáp ứng mọi yêu cầu mà các cơ quan chức năng đề ra.
{keywords}{keywords}
Ông Dũng cho rằng, tỉnh Bình Dương đã gây khó dễ đối với công việc của ông
Ngày 21.10, chúng tôi đã có mặt tại UBND tỉnh Bình Dương để đăng ký làm việc với ông Lê Thanh Cung xung quanh sự việc vì sao 7 năm không phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 cho chủ đầu tư KCN Sóng Thần 3 và vì sao ban hành văn bản trái với quy định của Luật Đất đai về việc cấm chủ đầu tư trong thời gian chờ phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 thì không được chuyển nhượng dưới bất cứ hình thức nào.
Tuy nhiên, ông Lê Thanh Cung đã không có mặt. Chúng tôi đã tiếp xúc với ông Võ Văn Lượng - Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Bình Dương và được ông Lượng cho biết "suốt thời gian qua không thấy ai trình thủ tục phê duyệt quy hoạch 1/500 đâu mà ký. Nếu có trình ký đi nữa thì tôi phải biết" (!?). Sau đó, ông Lượng hứa sẽ báo cáo với chủ tịch và sẽ trả lời báo chí trong thời gian sớm nhất.
Tuy nhiên, trái ngược với những gì ông Võ Văn Lượng trả lời, theo tìm hiểu của chúng tôi, từ năm 2006 đến nay chủ đầu tư KCN Sóng Thần 3 đã nhiều lần có văn bản gửi UBND tỉnh Bình Dương và các cơ quan chức năng của tỉnh đề nghị phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 KCN Sóng Thần 3. Sở Xây dựng và Ban quản lý các KCN Bình Dương cũng nhiều lần có văn bản kiến nghị UBND tỉnh Bình Dương phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 cho chủ đầu tư KCN Sóng Thần 3.
Cụ thể, lần kiến nghị sau cùng, Sở Xây dựng đã có văn bản số 1354/SXD-QH ngày 12.8.2010 về việc báo cáo và xin chủ trương điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu liên hợp CN-DV-ĐT Bình Dương và điều chỉnh Quy hoạch chi tiết KCN Sóng Thần 3. Tại văn bản này, ông Huỳnh Văn Minh - Phó Giám đốc Sở Xây dựng Bình Dương - kiến nghị tỉnh Bình Dương có ý kiến thống nhất và trình Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch chung xây dựng Khu liên hợp nói trên đồng thời chấp thuận chủ trương điều chỉnh quy hoạch chi tiết KCN Sóng Thần 3 thành Khu dân cư đô thị Đại Nam và KCN Sóng Thần 3.
Ban quản lý các KCN Bình Dương cũng có văn bản kiến nghị đồng thuận với chủ trương này. Tuy nhiên, UBND tỉnh Bình Dương đã có thông báo (số 41/TB-UBND ngày 16.2.2012) cho biết việc chấp thuận cho điều chỉnh các KCN trong Khu liên hợp nói trên là thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng! Trong khi trước đó, Sở Xây dựng đã có văn bản (số 1353/SXD-QH ngày 12.8.2010) báo cáo cho UBND tỉnh Bình Dương biết thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 KCN Sóng Thần 3 là của UBND tỉnh Bình Dương chứ không phải Bộ Xây dựng!
"Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm"
Xung quanh sự việc vì sao ông Huỳnh Uy Dũng tố cáo ông Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung, phóng viên Báo NTNN đã có cuộc trò chuyện với ông Huỳnh Uy Dũng. Ông Dũng cho biết:
"Tôi, Huỳnh Uy Dũng cam kết nói đúng sự thật, bằng chứng là những văn bản cụ thể và dự án kéo dài suốt 7 năm qua thì có lẽ nhân dân tỉnh Bình Dương và một số nhà đầu tư cũng chịu chung một "cái lệ" như tôi".
Ông Huỳnh Uy Dũng
Vào năm 2004, tôi quyết định mua 533,84ha đất ở Khu liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương. Lúc đó tỉnh đến hạn trả nợ cho Bộ Tài chính hơn 1.000 tỷ đồng nên tỉnh đã đề nghị tôi mua để "cứu nguy" uy tín của tỉnh lúc đó.
Vì lúc đó tôi đang xây KDL Đại Nam, nguồn lực tài chính rất căng, nên tôi đã đem toàn bộ tài sản thế chấp ngân hàng. Vì "chữ tín" của tỉnh tôi đã làm hết những gì có thể để cứu nguy lúc đó.
Vì sao ông Lê Thanh Cung là người đứng đầu tỉnh nhà lại ra một văn bản - như ông nói là trái với quy định của Nhà nước?
- Câu hỏi này tôi cũng đề nghị ông Lê Thanh Cung - Chủ tịch tỉnh Bình Dương trả lời trước các cấp lãnh đạo có thẩm quyền, trước cơ quan ngôn luận, báo chí và công chúng. Vì ông ta là người hiểu luật mà sử dụng "lệ" với các doanh nghiệp, với các nhà đầu tư ở tỉnh Bình Dương thì ông là người rõ hơn ai hết.
Ông đã có ý tưởng gì khi mua 533,84ha để làm dự án?
- Thật lòng tôi không muốn mua nhưng vì cứu nguy cho tỉnh có tiền trả nợ cho Bộ Tài chính hơn 1.000 tỷ đồng nên tôi phải mua. Với diện tích 533,84ha, tôi lập dự án kinh doanh KCN Sóng Thần 3. Trong 533ha có diện tích đất dịch vụ và đất ở 61ha đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính và được cấp sổ đỏ; phân lô bán cho CB - CNV Đại Nam.
Lúc đó tôi có hơn 2.000 nhân viên đang làm việc, số đông họ đều ở nhà thuê vì họ ở từ nơi khác đến, họ làm việc với mức lương cao nhất 12.000.000 đồng/tháng, thấp nhất 3.000.000 đồng/tháng nên tôi giải quyết cho nhân viên bằng cách góp vốn chia nền để sau này làm nhà ở với giá thành là từ 1.030.000 - 1.600.000 đồng/m2 tuỳ theo vị trí. Tôi còn tạo điều kiện để ngân hàng cho vay do tôi bảo lãnh. Thời điểm đó giá đất còn sốt cao (vào khoảng năm 2007). Trong khi đất cùng chung dự án của Becamex bán ra cao hơn tôi bán rất nhiều lần.
Mọi khó khăn bắt đầu từ lúc ông Lê Thanh Cung về làm phó chủ tịch. Các công việc liên quan đến Khu du lịch Đại Nam Văn Hiến cho đến các dự án khác của tôi đều được quan tâm rất đặc biệt. Bằng chứng là văn bản số 3184/UBND-KTTH ngày 21.10.2009 của UBND tỉnh Bình Dương; trong đó có câu "không cho phép chuyển nhượng khu đất ở trong khu công nghiệp dưới bất cứ hình thức nào" được đóng dấu và ký tên Lê Thanh Cung (phó chủ tịch thường trực).
Tôi đã từng là Đại biểu Quốc hội nên tôi hiểu luật pháp và luôn tuân thủ theo đúng pháp luật. Vì vậy mà công ty và bản thân tôi mới có thể tồn tại đến ngày hôm nay. Và tôi chính thức tố cáo ông Lê Thanh Cung đến các cơ quan có thẩm quyền cao nhất về các hành vi dùng quyền hành để áp chế "chế tài" các nhà đầu tư vì mục đích phục vụ nhóm lợi ích thao túng suốt nhiều năm nay đối với dự án Khu liên hợp CN-DV-ĐT Bình Dương.
Thưa ông Dũng, sự việc xảy ra quá bất ngờ, quá nóng, có thể gây sốc với dư luận khi ông công bố tố cáo ông Lê Thanh Cung là chủ tịch tỉnh Bình Dương, một tỉnh đang phát triển, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước?
-Tôi, Huỳnh Uy Dũng cam kết nói đúng sự thật. Những văn bản cụ thể mà tỉnh Bình Dương đã ban hành, cùng việc dự án kéo dài suốt 7 năm qua cho thấy có lẽ một số nhà đầu tư cũng chịu chung một "cái lệ" như tôi. Nếu tôi vu khống, bôi nhọ ông Lê Thanh Cung, tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

"THÀNH PHẦN CHỦ ĐẠO" CỦA NỀN KINH TẾ...VẮT KIỆT SỨC DÂN

‘Thành phần chủ đạo’ của nền kinh tế đang vắt kiệt sức dân

Được coi là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế của đất nước, song nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN), mà đặc biệt là các tổng công ty đầu ngành, liên tiếp cho thấy những màn trình diễn tồi, không những không đóng góp thiết thực vào sự tăng trưởng kinh tế, mà còn gây thiệt hại lớn đến nguồn vốn ngân sách, và quyền lợi của người dân.
Trong cuộc họp báo chiều 17/10 chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội sắp khai mạc, ông Nguyễn Hạnh Phúc - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội - đã trao đổi với báo giới về một số nội dung liên quan đến tiến độ của dự thảo Hiến pháp, trong đó, nội dung quy định vai trò các thành phần kinh tế trong dự thảo Hiến pháp nhận được sự quan tâm đặc biệt. Ông Phúc nhấn mạnh: “Đương nhiên kinh tế nhà nước phải chủ đạo, không thể để tư nhân làm chủ đạo, không thì ai lo an sinh xã hội. Còn các thành phần kinh tế thì bình đẳng, không phân biệt”.
Tuy nhiên, không hiểu sao kinh tế tư nhân lại bị lôi vào cuộc tranh giành ngôi vị này, khi trước nay ứng cử viên duy nhất vẫn là kinh tế nhà nước, mà các ý kiến chỉ xoay quanh việc yêu cầu cần có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tức là bỏ luôn cái khoản “chủ đạo” đi. Và kinh tế nhà nước chủ đạo thì có mối quan hệ gì tới việc “lo” cho an sinh xã hội?!
Trên thực tế, sau gần 1/4 thế kỷ kinh tế nhà nước làm chủ kể từ sau giai đoạn mở cửa, và gần 10 năm sau khi gia nhập WTO, chưa bao giờ kinh tế Việt Nam lại lao đao hơn hiện tại. Và trong suốt hơn hai thập kỷ qua, nhận được vô vàn ưu ái từ chính sách, đặc biệt đối với khâu cấp vốn cho tới các hoạt động thị trường cùng những đảm bảo “vàng” - làm ăn thua lỗ đã có tập thể chịu, chưa một vị giám đốc DNNN nào chỉ vì quản lý yếu kém mà bị bỏ tù, kê biên tài sản - nên rất nhiều DNNN tiếp tục rơi và tình trạng thua lỗ và thất thoát triền miên với con số lũy kế theo năm lên tới cả chục ngàn tỷ đồng.
Cái sự dửng dưng mỗi khi ngân sách bị thất thoát khiến người ta có cảm giác như những cái “tàu há mồm” nuốt chửng từ hàng nghìn tỷ có thể đến hàng trăm nghìn tỷ đồng như Vinashin, Vinalines… chỉ “nhẹ bẫng” so với tổng thu ngân sách mỗi năm vài trăm ngàn tỷ đồng - từ tiền thuế của dân?! Rõ ràng, nhiều người không đau xót vì trong hàng ngàn tỷ đồng thua lỗ, hay còn được một số người vớt vát gọi trệch đi là “nợ xấu chưa thu hồi”, thì một vị Tổng Giám đốc như Dương Chí Dũng cũng phải bỏ túi không ít, và bộ sậu - ê kíp giúp cho Dũng thực hiện được hành vi tham ô - cũng nhận được một khoản rất có thể lớn hơn nhiều lần.
Điểm qua một số DNNN có “máu mặt” nhất, được xếp trong top 10 của 500 DNNN có doanh thu và quy mô vốn lớn nhất thị trường (theo VNR500-2012), có thể thấy những cái tên như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Than khoáng sản (Vinacomin), Ngân hàng NN&PTNN (Agribank)… Tuy nhiên, là ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất trong hệ thống tài chính của Việt Nam với mạng lưới chi nhánh dày đặc, nhưng Agribank cũng là một trong những doanh nghiệp làm ăn bết bát nhất với tỷ lệ nợ xấu luôn dẫn đầu, lên đến 6,14% (báo cáo đến ngày 30/6/2012 - Ngân hàng Nhà nước). Thậm chí, theo thông tin từ beforeitsnews.com, tính đến hết tháng 8/2013, nợ xấu của Agribank lên tới 33.500 tỷ đồng, vượt 13,1% so với 29.605 tỷ đồng vốn điều lệ!
Một đại diện khác cho DNNN cũng “lẫy lừng” không kém về khả năng làm ăn là EVN với khoản lỗ tính riêng cho năm 2010 là 8.416 tỷ đồng, năm 2011 là 8.000 tỷ đồng (lỗ lũy kế đến năm 2010 xấp xỉ 25.000 tỷ đồng). Chỉ sang năm 2012, EVN mới bất ngờ tuyên bố có lãi thông qua một lộ trình tăng giá điện dày đặc: Năm 2009, giá điện tăng 8,92%; năm 2010, tăng 6,8%; năm 2011, từ tháng 1-3, tăng 15,3%, tháng 12/2011, giá điện tăng lần hai 5%; tháng 07/2012, tăng thêm 5%, tháng 12/2012, giá điện tăng lần hai 5%; và từ 1/08/2013, giá điện tăng 5%. Chỉ nhìn vào tốc độ tăng giá sản phẩm bán cho dân của một doanh nghiệp được vận hành bằng tiền (thuế) của dân trong một thị trường độc quyền cũng có thể thấy, việc doanh nghiệp này “làm ăn có lãi” là hoàn toàn vô nghĩa, thậm chí đi ngược lại với quyền lợi của khách hàng - là người dân.
Trong khi đó, Viettel - một tập đoàn kinh tế Nhà nước nhưng được tổ chức và điều hành với đặc thù riêng của quân đội - được cho là doanh nghiệp làm ăn có lãi thực sự, song cũng đang dính tới không ít khoản đầu tư ngoài ngành - vốn bị xem chính là một trong các thành phần cấu thành nên “lỗ thủng” cho nhiều Tập đoàn nhà nước - trong lĩnh vực xây dựng (với Vinaconex), năng lượng (với EVN Quốc tế), tài chính (với Công ty Tài chính CP Vinaconex), sản xuất-chế biến (với Công ty CP Công nghiệp cao su Coecco)… 
Một “ông lớn” khác là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) lại “chơi chiêu” với các cơ quan quản lý và người tiêu dùng. Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2013 của tập đoàn này,  6 tháng đầu năm, lợi nhuận hợp nhất trước thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 898 tỷ đồng. Lãi lớn, nhưng liên tục phát ra thị trường thông điệp thua lỗ, lãi ít, kể khổ để tiện bề tăng giá xăng dầu tùy hứng, Petrolimex đang đi ngược lại lợi ích của người tiêu dùng - những cổ đông lớn nhất của chính các DNNN mà trong đó có tập đoàn này. Chưa dừng ở đó, mặc dù có lãi, nhưng Petrolimex vẫn “xin” khất thuế, nợ thuế vào cuối năm nay. Với kiểu làm ăn “chày bửa” như vậy, khó có thể hy vọng những doanh nghiệp kiểu này đóng góp gì cho nền kinh tế, cho người dân.
Điểm qua một vài “ông anh cả” trong các tập đoàn Nhà nước, có thể thấy tình trạng làm ăn thua lỗ là phổ biến. Trong trường hợp có lãi, thì phần sinh lời người dân cũng không được hưởng bởi ngay cả khi có thặng dư thì các doanh nghiệp này vẫn tìm cách tăng giá bán sản phẩm: EVN tăng giá bán điện trung bình 2 năm /lần, Petrolimex tăng giá bán xăng 5 lần chỉ trong vòng 3 tháng năm 2013, Viettel/MobiFone/Vinaphone tăng cước 3G 2 lần trong 6 tháng... với lý do bù lỗ trước đó!
Không những phần đóng góp cho xã hội rất thấp, mà phần lấy đi lại nhiều khi các doanh nghiệp này luôn tìm cách “hưởng thụ” với lương và những ưu đãi cực lớn cho người trong ngành. Ví dụ, theo kết quả kiểm toán, lương bình quân công ty mẹ EVN năm 2010 là 13,7 triệu đồng/tháng, lương cán bộ văn phòng EVN bình quân 30 triệu đồng/tháng; lương bình quân nhân viên công ty mẹ của Petrolimex là 21 triệu đồng/tháng (kiểm toán 2011)… Chưa kể những hoạt động đầu tư để hưởng thụ theo bề nổi, bề chìm mới được Thanh tra Chính phủ công bố một phần như EVN xây biệt thự, chung cư, trung tâm thể thao, vui chơi… cho cán bộ tại hàng loạt dự án, mà theo lời biện hộ của lãnh đạo tập đoàn này là để “tái tạo sức lao động”. Kèm theo những cục lương “khủng” thì những công trình giải trí, thư giãn của EVN đang được người dân è cổ ra cõng bằng “giá điện khủng”.
Trước những bất cập kể trên, một tỷ lệ lớn các tập đoàn Nhà nước, các DNNN quả có đóng “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế, nhưng không thiên về hướng điều tiết, dẫn dắt thị trường và đóng góp cho sự tăng trưởng ổn định bền vững của nền kinh tế, cũng như phục vụ quyền lợi của người dân, mà đáng tiếc theo hướng ngược lại.
Trên thực tế, càng đẩy mạnh vai trò của DNNN lên bao nhiêu thì đặc quyền, đặc lợi cho nhóm đối tượng này càng tăng lên bấy nhiêu, và làm giảm sức cạnh tranh của chính các doanh nghiệp này, và đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân - vốn đóng góp tới 31,3% thuế cho ngân sách Nhà nước (2011) - bấy nhiêu. Trong khi đó, việc khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tận dụng được chất xám, lẫn nguồn lực tài chính tự nguyện trong dân bao nhiêu thì đầu tư cho các DNNN càng tăng thêm yếu tố rủi ro về vốn ngân sách bấy nhiêu.
Mặt khác, nguồn gốc của an sinh xã hội ở bất kỳ một quốc gia nào vẫn là từ tiền đóng thuế và nộp bảo hiểm của người dân cũng như các thành phần kinh tế, được chính phủ điều tiết thông qua các chương trình, chính sách, chứ việc các tập đoàn kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo cũng không quyết định đến an sinh xã hội, nếu chưa muốn nói ngược lại, với tình trạng lỗ và xin khất lần như vậy, chính bản thân DNNN lại là một trong những nguyên nhân không nhỏ gây “thủng” quỹ bảo hiểm.

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

CHUYỆN CHẮT VUA MINH MẠNG MAY GỐI TẶNG ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Chuyện chắt vua Minh Mạng may gối tặng Đại tướng

Là chắt nội của Vua Minh Mạng, năm 80 tuổi, cụ bà Công Tôn Nữ Trí Huệ vinh dự ra Hà Nội thăm và tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chiếc gối mà mình tự tay làm, đã được Người đón nhận và tấm tắc khen.

"Quý Đại tướng như ruột thịt"

Sáng ngày 12/10, tại ngôi nhà lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình), hàng ngàn người khắp gần xa về đây xếp hàng để được vào viếng, tiễn biệt vị Đại tướng anh hùng đã mãi mãi ra đi.

Trong số hàng ngàn người đến viếng, có người rất đặc biệt. Đó là một cụ bà nhỏ nhắn, mái tóc bác phơ ngồi thẫn thờ tay cầm bức di ảnh Đại tướng rưng rưng lệ. Ngồi bên cạnh bà là một người đàn ông cao lớn, người nước ngoài.

Chuyện chắt vua Minh Mạng may gối tặng Đại tướng
Cụ Huệ cùng cháu rể (Quốc tịch Pháp) từ TP. Huế ra viếng Đại tướng tại nhà lưu niệm của người ngày 12/10.

Qua tiếp chuyện, được biết cụ tên là Công Tôn Nữ Trí Huệ (SN 1922, trú xã Hương Cần huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế), là chắt nội của vua Minh Mạng, cháu nội của Hoàng tử Miên Lâm.

Ôm tấm di ảnh Đại tướng trên tay, cụ Huệ, rưng rưng nói: "Từ ngày biết tin Đại tướng mất, mệ buồn lắm, không ăn không ngủ được, cứ muốn ra để thắp cho cụ nén hương. Giờ thì đã thắp được rồi".

Cụ Huệ cho biết, sau nhiều lần cứ nằng nặc đòi ra viếng Đại tướng, nên con trai và cháu rể cũng đã đồng ý đưa cụ ra quê hương Đại tướng để cụ được thắp cho Người nén hương.

"Đại tướng là một người tài giỏi, đức độ, cụ mất đi để lại tiếc thương lớn vô cùng, mất mát lớn vô cùng. Trong lòng mệ, Đại tướng như ruột thịt" - cụ Huệ sụt sùi.

Tự hào may gối tặng Đại tướng

Tay run run lần dở lại những bức ảnh được chụp chung với Đại tướng, cụ Huệ nhớ lại, đó chính là kỉ niệm vào tháng 12/2002, khi cụ và người con trai là Bùi Quang Thiện ra Hà Nội thăm Đại tướng tại nhà riêng của người ở phố Hoàng Diệu.

 Chuyện chắt vua Minh Mạng may gối tặng Đại tướng
Cụ Huệ ngắm nhìn bức di ảnh Đại tướng mà lòng nặng trĩu, bao nhiêu kí ức về Đại tướng hiện về trong cụ.

"Lần đó, qua giới thiệu của thư kí Đại tướng, mệ với con trai được Đại tướng đồng ý cho gặp, mệ mừng lắm. Vào nhà, gặp Đại tướng mệ cất tiếng: kính thưa cụ, con từ Huế ra. Đại tướng ngắt lời, nói: bà đừng gọi thế. Sau đó mệ xưng hô lại là cụ - tôi, Đại tướng đã gật đầu và ân cần trò chuyện, thăm hỏi sức khỏe, người thân nơi quê nhà...".

Trong cuộc trò chuyện, mệ thưa với Đại tướng rồi đưa trái dựa (chiếc gối dựa có 5 lá bọc lớp vải màu vàng) mà mệ đã tự may tặng cụ, Đại tướng vui vẻ nhận rồi nói: chúng tôi cảm ơn bà. Chúc bà luôn mạnh khỏe và sống hạnh phúc với con cháu" - cụ Huệ nhớ lại.

Cũng theo cụ Huệ, trong cuộc gặp, cụ đã kể cho Đại tướng biết về dòng dõi thuộc triều đình nhà Nguyễn của mình, trong đó ông nội cụ phò vua Hàm Nghi, bác ruột phò vua Thành Thái, cha là Hường Dẫn phò vua Duy Tân chống pháp, sự việc không thành đều bị chết và giam cầm. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cụ cũng có công nuôi cách mạng.

Nghe xong, Đại tướng bày tỏ vui mừng khi được biết gia đình cụ cũng có đóng góp cho sự nghiệp chung.

Chuyện chắt vua Minh Mạng may gối tặng Đại tướng
Cụ Huệ và con trai thăm và tặng Đại tướng chiếc gối xếp (đặt bên trái bàn) vào tháng 12/2002. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Cụ Trí Huệ từng theo hầu Đức Từ Cung Hoàng thái hậu (mẹ vua Bảo Đại) 9 năm và may vá rất khéo, nhất là tài may gối dựa có nhiều lá dùng gối đầu, hoặc để kê vào ghế dựa cho êm.

Cụ Trí Huệ cũng đã từng may gối dựa cho vua Bảo Đại và triều thần, Hoàng Thái Hậu, Triều thần nhà Nguyễn...

Chiếc gối tặng Đại tướng, cụ Huệ đã rất thận trọng, tỉ mẩn xe chỉ, luồn kim gần 1 tháng trời ở tuổi 80, nên khi nhận, Đại tướng đã khen cụ rất khéo tay. Điều đó, làm cụ Huệ nhớ mãi, và rất tự hào.
  
Cụ Huệ cũng tự hào đã 2 lần được gặp Đại tướng, lần đầu là khi cụ còn phụng hương khói ở lăng Tự Đức, Đại tướng đã vào thăm lăng.

"Lần đó mệ vẫn còn nhớ, khi Đại tướng vô, có người mời cụ ngồi lên chiếc sập thờ trong lăng, cụ nói: không thể ngồi vào đó được, như thế là bất kính với tiền nhân” - cụ Huệ nhớ lại.

Đôi mắt sâu thẳm đượm buồn, chào chúng tôi để vượt gần 200 km trở lại Huế, sau khi đã được viếng Đại tướng, cụ Huệ xúc động nói: "Rứa là toại nguyện rồi, ai trong đời được gặp Đại tướng một lần cũng là vinh dự, là may mắn lắm rồi, mệ còn được tặng Đại tướng chiếc gối nữa...".

Theo Trần Văn
VietNamnet

CÔ GÁI VIỆT ĐÁNH BẠI 78 ĐỐI THỦ TRUNG-QUỐC

Cô gái Việt đánh bại 78 đối thủ Trung Quốc

- Với 1 triệu người học sáo flute, Trung Quốc có 78 thí sinh tham dự cuộc thi này; trong khi toàn Việt Nam chỉ có khoảng 70 người theo học bộ môn này, với 1 thí sinh duy nhất được mang đi thi tài tại Nam Ninh.

 
Nguyễn Ly Hương sinh năm 1990, hiện đang là sinh viên năm thứ 4 Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam vừa đoạt giải cao Nhất trong “Cuộc thi quốc tế dành cho các nghệ sĩ sáo Flute” (độ tuổi đến 38) được tổ chức tại Nam Ninh (Trung Quốc) từ ngày 10 - 13/10/2013.
Nguyễn Ly Hương, giải Nhất, sáo flute, quốc tế, Nam Ninh Trung Quốc,
Nguyễn Ly Hương - sinh viên năm thứ 4 Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam
Lần đầu tiên được tổ chức, Nam Ninh Young International Competition bao gồm 2 phần thi hòa tấu và độc tấu, trong đó phần thi độc tấu sáo flute gồm 78 thí sinh Trung Quốc và một thí sinh Việt Nam duy nhất.
Đứng trước 78 đối thủ Trung Quốc với rất nhiều người trung tuổi đang là giảng viên, nghệ sĩ độc tấu hoặc các tay sáo đầu bè của các dàn nhạc lớn, lại sử dụng những cây sáo cao cấp và đắt giá bậc nhất, cô sinh viên Nguyễn Ly Hương với cây sáo hạng trung của mình và chỉ hơn 3 tuần tập luyện đã chiến thắng một cách hoàn toàn thuyết phục.
Tiếng sáo của Hương chinh phục một ban giám khảo đồ sộ gồm 17 thành viên là giáo sư, nghệ sĩ nổi tiếng nhất của Trung Quốc về Flute đến từ Bắc Kinh, Thượng Hải, Tây An, Nam Ninh, Vũ Hán, Thanh Đảo...
Nguyễn Ly Hương, giải Nhất, sáo flute, quốc tế, Nam Ninh Trung Quốc,
Nguyễn Ly Hương trong một ảnh đời thường
Thông thường, đứng trước một một kì thi quốc tế, các thí sinh sẽ có từ nửa năm đến một năm để chuẩn bị, nhưng Ly Hương chỉ được báo trước hơn 3 tuần. Chương trình thi có thể nói là rất nặng: 5 tác phẩm bao gồm sonata và concerto trong 2 vòng thi, xuyên suốt từ thời kì cổ điển tới hiện đại; nhiều bài trong số đó là bắt buộc.
Hương kể: "Từ khi nhận lời tham gia thi đến lúc chính thức thi là đúng 3 tuần. Lúc đó mỗi ngày mình tập 10 đến 12 tiếng, thậm chí còn hơn, như một con thiêu thân chỉ có lao vào ăn và tập luyện. Sau tuần tập đầu tiên tay mình sưng lên vì đau, không cầm được sáo nữa. Lúc ấy tủi thân chỉ dám khóc mà không nói với ai vì sợ bố mẹ lo lắng. Ban ngày tập, ban đêm mình ngâm tay vào thuốc bắc, uống thêm thuốc tăng lực... cứ thế suốt 3 tuần cho đến ngày đi thi.
Dàn thí sinh của họ vừa đông vừa mạnh, cả đoàn Việt Nam không ai nghĩ mình sẽ có giải. Lúc mình bước lên sân khấu, các thầy cô trong đoàn nín thở vì chỉ sợ mình đánh sai. Một cuộc thi quốc tế như thế này chỉ cần đánh sai một nốt thôi là hỏng hết".
Nguyễn Ly Hương, giải Nhất, sáo flute, quốc tế, Nam Ninh Trung Quốc,
Ly Hương trong bài thi tại Trung Quốc
Nhưng 78 thí sinh Trung Quốc - vốn được đánh giá rất mạnh về mặt kĩ thuật, đã không đủ tinh tế và hiểu sâu về tác phẩm như Hương Ly. "Kỹ thuật của họ quá giỏi, chạy bài như một cái máy" - Hương nói - "Mặc dù tốc độ bài rất cao nhưng họ chơi không có một lỗi nào, sạch sẽ, không vấp. Nhưng nhược điểm của họ là liến láu chỉ chạy từ đầu đến cuối thôi chứ không có sự sâu lắng hay truyền cảm xúc, khán giả nghe cảm thấy buồn chán, bị khô".
Nguyễn Ly Hương của Việt Nam được đánh giá là một thí sinh tinh tế, có độ hoàn thiện. Một tiếng sáo đẹp, nhiều mầu sắc cùng với cách xử lý tác phẩm phong phú, diễn tả được tính cách âm nhạc của mỗi tác giả.
Phương pháp học tập của Nguyễn Ly Hương là nghiên cứu sâu về Lịch sử âm nhạc - một môn học bắt buộc ở trường. Ở đó, cô học về các tác giả ở các thời kì khác nhau, nghiên cứu tính cách tác giả, cách rung sáo, hơi thở, cách xử lý kỹ thuật trong từng thời kì âm nhạc. "Xử lý một cách tinh tế, đó là điều quan trọng, là quyết định cuối cùng" - Ly Hương trả lời.
Phóng viên VietNamNet hỏi đại diện đoàn Việt Nam khi vừa trở về: "Có yếu tố quan hệ ngoại giao hoặc các yếu tố khác dẫn đến việc mình được giải Nhất không?".
Vị đại diện nói: "Không, Trung Quốc không phải một đất nước như vậy. Tính cách dân tộc của họ rất mạnh. Nếu mình chỉ bằng họ thôi thì sẽ không bao giờ họ để mình đứng đầu, nhất là khi có mặt những trường phái flute mạnh như Bắc Kinh, Thượng Hải. Tôi cho rằng BGK lần này đã hết sức chuyên nghiệp, công tâm."
Nguyễn Ly Hương nhận được lời mời từ những học viện âm nhạc hàng đầu ở Bắc Kinh và Thượng Hải, nhưng Hương nói, cô muốn tốt nghiệp Đại học ở Việt Nam trong năm nay, và sau đó dự định theo học Cao học tại Thụy Điển.
Nguyễn Ly Hương sinh ngày 19/10/1990 hiện đang học Đại học 4 sáo Flute, lớp giảng viên Nguyễn Trung Thành – Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Cô tham gia cuộc thi sáo flute tại Trung Quốc với sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Trọng Bằng (Flute) và Thạc sĩ Nguyễn Quỳnh Trang (Đệm Piano) và đoạt giải Nhất phần thi độc tấu trước 78 thí sinh nước chủ nhà. Từ trước đến nay đây là lần đầu tiên Việt Nam đoạt được giải quốc tế về flute và cũng là lần đầu tiên Việt Nam được mời làm Ban giám khảo về sáo Flute.
Hồ Hương Giang

"SIÊU LỪA" LẠI GẶP "SIÊU LỪA" !

'Siêu lừa' gặp nhau, Huyền Như chiếm của Bầu Kiên 700 tỷ

Đúng với biệt danh “siêu lừa”, Huỳnh Thị Huyền Như đã lừa đảo số tiền tới gần 4.000 tỉ đồng, trong đó chiếm đoạt của nhóm bầu Kiên, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Sáng lập Ngân hàng ACB, gần 719 tỉ đồng.

Siêu lừa 4.000 tỷ Huyền Như và 12 đồng bọn sắp ra tòa
Ngày 18-10, Viện KSND tối cao cho biết vừa ra cáo trạng vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) chi nhánh TP HCM và nhiều đơn vị, cá nhân khác trên địa bàn Hà Nội và TPHCM. Cáo trạng truy tố bị can Huỳnh Thị Huyền Như (SN 1978, thường trú ở phường 22, quận Bình Thạnh, TP HCM), nguyên Quyền trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ, Vietinbank, chi nhánh TP HCM về 2 tội danh: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Cùng với “siêu lừa” Huyền Như, 22 bị can khác bị truy tố về các tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Cho vay lãi nặng; Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
bầu kiên, huyền như, lừa đảobầu kiên, huyền như, lừa đảo

Đáng chú ý, vụ án gây chấn động này có 13 bị can nguyên là trưởng, phó phòng, cán bộ, nhân viên phòng giao dịch Điện Biên Phủ và Phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng thuộc Vietinbank cùng Phòng giao dịch Võ Văn Tần thuộc Vietinbank chi nhánh Nhà Bè, TP HCM.
Theo cáo trạng, từ tháng 3-2010 đến tháng 9-2011, để chiếm đoạt tiền của các cơ quan, đơn vị, cá nhân Huỳnh Thị Huyền Như đã lấy danh nghĩa huy động vốn cho Vietinbank, chi nhánh Nhà Bè và chi nhánh TP HCM tự thỏa thuận lãi suất vay tiền rồi làm giả 8 con dấu của Vietinbank chi nhánh Nhà Bè và 7 công ty, 2 ngân hàng Vietinbank và nhiều cá nhân, đơn vị khác để lừa đảo chiếm đoạt tiền của 9 công ty, 4 ngân hàng, 3 cá nhân với tổng số tiền gần 4.000 tỉ đồng.
Cơ quan điều tra xác định, ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các đơn vị, Huỳnh Thị Huyền Như còn là một “chuyên gia” làm giả. Cụ thể: Huỳnh Thị Huyền Như khai đã đến khu vực chuyên làm dấu tại đường Phạm Hồng Thái quận 1, TP HCM nhờ người khắc dấu với giá 8 triệu đồng. Như đã thuê người làm giả 8 con dấu của Ngân hàng Vietinbank (chi nhánh Nhà Bè), Công ty TNHH đầu tư Phúc Vinh, Công ty CP đầu tư Thịnh Phát, Công ty CP TM&ĐT Hưng Yên, Công ty CP ĐT&TM An Lộc, Công ty CP Bảo hiểm toàn cầu, Công ty Đức Minh Quang, Công ty CP CK Saigonbank-Beraja. Như còn làm giả hồ sơ, làm giả 110 hợp đồng tiền gửi, làm giả nhiều hợp đồng hồ sơ mở tài khoản, hợp đồng vay tiền bằng thẻ tiết kiệm, lệnh chi…
Tuy nhiên, đối với người đàn ông Như thuê khắc 8 con dấu giả vào tháng 7-2010 tại đường Phạm Hồng Thái, gần công viên 23-9, quận 1, TP HCM, qua điều tra không xác định được nên không có căn cứ xử lý.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị cáo: 8 con dấu giả của các ngân hàng; kê biên, thu giữ tài sản các loại trị giá hơn 624 tỉ đồng; gần 157.000 EUR, hơn 4.600 USD và thu giữ trên 217 tỉ đồng tiền mặt; 7 sổ tiết kiệm trị giá 30 tỉ; 4 xe ô tô trị giá 5 tỉ đồng; kê biên 20 bất động sản trị giá 361 tỉ đồng…
Riêng với Như, đến khi bị bắt thu giữ: hơn 39 tỉ đồng tiền mặt; thu hồi 31 tỉ Như đã thanh toán để mua nhà, đất của 5 công ty bất động sản; thu giữ 3 ô tô trị giá 5,6 tỉ đồng, kê biên 13 bất động sản có trị giá hơn 185 tỉ đồng và một số tài sản khác. Như cũng đã nộp 8 tỉ đồng để khắc phục hậu quả.
Như chúng tôi đã đưa, tại buổi làm việc với Ban Nội chính Trung ương do ông Nguyễn Bá Thanh dẫn đầu, Viện KSND tối cao đã nêu đây là 1 trong 10 vụ “đại án” tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, số tiền chiếm đoạt lớn, liên quan đến nhiều cá nhân và đơn vị, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
Được biết, theo dự kiến, Tòa án nhân dân TP HCM đưa vụ án ra xét xử trong quý 4-2013.
Liên quan đến vụ việc này, cơ quan điều tra đã khởi tố 6 người gồm ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Sáng lập Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB); ông Trần Xuân Giá, nguyên Chủ tịch HĐQT ACB; các Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ và Trịnh Kim Quang, là nguyên các Phó chủ tịch HĐQT ACB; Lý Xuân Hải, nguyên Tổng giám đốc ACB, do có hành vi cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Từ tháng 5-2010 đến 11-2011, ACB ủy thác cho 19 nhân viên gửi tổng cộng gần 719 tỉ đồng vào VietinBank (Chi nhánh Nhà Bè và Chi nhánh TP HCM) với lãi suất từ 17,8% - 18,5%/năm song bị bà Như chiếm đoạt toàn bộ.
Quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra đã tách ra để điều tra tiếp trong một vụ án khác.

Theo NLĐ

NHỮNG PHỤ NỮ GỐC VIỆT TÀI DANH TRÊN THẾ GIỚI

Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới

(Dân trí) - Họ là những phụ nữ mang trong mình dòng máu Việt và đã được thế giới biết đến bởi tài năng xuất sắc của mình.

“Vua đầu bếp Mỹ” Christine Hà
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Christine Hà sinh năm 1979, hiện cô đang sinh sống tại bang Texas, Mỹ. Cha mẹ cô đều là người Việt, tên thật của cô là Hà Huyền Trân.
Christine mắc phải căn bệnh hiếm gặp khiến cô mất dần thị lực và cuối cùng, bị mù hẳn từ năm 2007. Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành tài chính và quản lý thông tin của Đại học Texas nhưng Christine không thể đi làm vì vấn đề thị lực.
Có niềm đam mê lớn với việc nấu nướng, cô thử lập một trang web cá nhân để đăng tải các công thức nấu ăn của mình. Trang web của Christine Hà nhanh chóng trở nên nổi tiếng trong cộng đồng những người yêu bếp núc ở Mỹ.
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Có quyết tâm lớn cùng tài năng nấu nướng, Christine Hà đã mạnh dạn tham dự cuộc thi Vua đầu bếp Mỹ 2012 và vượt qua tất cả các thí sinh khác để giành ngôi vị quán quân Vua đầu bếp Mỹ mùa thứ 3.
Cho tới nay, cô vẫn là thí sinh khiếm thị duy nhất từng tham gia cuộc thi này. Nghị lực của Christine Hà trong suốt quá trình thi đã khiến khán giả xem truyền hình trên khắp thế giới xúc động.
Chuyên gia trang điểm Michelle Phan
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Michelle Phan sinh năm 1987, hiện cô đang sinh sống ở bang Florida, Mỹ. Cô là nhà trang điểm người Mỹ gốc Việt nổi danh thế giới. Cách gây dựng tên tuổi của Michelle Phan rất đơn giản, cô tự thực hiện những đoạn video dạy cách trang điểm và làm đẹp rồi đăng tải trên YouTube.
Những video của Michelle Phan hiện đã có hàng triệu lượt xem. Tuy không phải nhân vật nổi tiếng bước ra từ giới giải trí nhưng danh tiếng mà Michelle Phan có được đã giúp cô trở thành gương mặt đại diện trên mạng của những hãng mỹ phẩm nổi tiếng.
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Hiện cô đã cho ra mắt một thương hiệu mỹ phẩm của riêng mình có tên EM Michelle Phan - một cái tên đậm chất Việt với đại từ nhân xưng “em” rất dễ thương. Michelle Phan từng nhận được giải thưởng Ngôi sao mới của tạp chí chuyên về làm đẹp Womens Wear Daily và lọt vào top Những gương mặt đáng chú ý dưới tuổi 30 của tạp chí Marie Claire.
Nhà thiết kế thời trang Nini Nguyễn
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Nini Nguyễn sinh ra tại Việt Nam và từng sống ở đây 6 năm. Sau này, cô sang Mỹ định cư cùng cha mẹ. Bước đầu khởi nghiệp của Nini Nguyễn không dễ dàng. Vốn yêu thích thời trang nhưng vì không giỏi tiếng Anh, Nini không được bất cứ hãng thời trang nào nhận vào làm việc.
Cô đành khởi nghiệp bằng nghề lao công và sau này làm nhân viên bán hàng của các hãng bán lẻ thời trang. Bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp của Nini là khi cô quyết định trở thành nhà thiết kế thời trang.
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Khách hàng tìm tới Nini Nguyễn rất đông, có cả những người nổi tiếng, đặc biệt nhất nhất là nữ ca sĩ Rihanna. Hiện giờ, Nini Nguyễn đang là nhà thiết kế chính cho phong cách thời trang ấn tượng của nữ ca sĩ người Barbados.
Nhiếp ảnh gia Lê Mỹ An
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Nhiếp ảnh gia gốc Việt - Lê Mỹ An từng vinh dự nhận được giải MacArthur Fellowship - giải “Thiên tài” của Mỹ. Đây là một giải thưởng cao quý nhằm tôn vinh những cá nhân có hoạt động sáng tạo xuất sắc, công nhận những cống hiến và thành tựu ấn tượng của các cá nhân cho cộng đồng.
Lê Mỹ An được biết tới là một nhiếp ảnh gia chuyên về đề tài chiến tranh. Sang Mỹ định cư từ năm 1975, những tác phẩm ảnh của người phụ nữ 53 tuổi này chủ yếu lấy cảm hứng từ chiến tranh bởi chính bà đã có những trải nghiệm về nó.
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Một đề tài cũng luôn trở đi trở lại trong các tác phẩm của Lê Mỹ An là mối quan hệ giữa những người Việt Nam định cư ở Mỹ và nỗi nhớ quê hương. Khi có dịp, Mỹ An vẫn quay về Việt Nam để thực hiện các tác phẩm ảnh.
Nữ nhà văn Lại Thanh Hà
Những phụ nữ gốc Việt tài danh trên thế giới
Lại Thanh Hà sinh năm 1965 tại Việt Nam và định cư tại Mỹ từ năm 1975. Tốt nghiệp Đại học Texas chuyên ngành báo chí, Lại Thanh Hà khởi nghiệp bằng nghề phóng viên cho tờ tin tức The Register chuyên về các thông tin của cộng đồng người Việt ở Quận Cam, bang California.
Chính nhờ công việc này mà kỹ năng viết tiếng Anh của Lại Thanh Hà đã tiến bộ nhanh chóng. Sau gần 2 năm làm phóng viên, Lại Thanh Hà quyết định nghỉ việc và bắt đầu tập trung cho sáng tác.
Nữ nhà văn Lại Thanh Hà nhận giải National Book Award cùng 3 nhà văn Mỹ khác.Nữ nhà văn Lại Thanh Hà nhận giải National Book Award cùng 3 nhà văn Mỹ khác.
Cuốn sách đầu tay của cô là một tác phẩm dành cho thiếu nhi có tên "Inside Out & Back Again" (Từ trong ra ngoài và bắt đầu lại - 2011). Cuốn sách nhanh chóng gây được tiếng vang, giúp Lại Thanh Hà đoạt giải National Book Award - một giải thưởng thường niên lâu đời và uy tín nhằm tôn vinh những tác phẩm văn học xuất sắc của các tác giả Mỹ.
 
Hồ Bích Ngọc
Tổng hợp

ĐỀ NGHỊ TRUY PHONG ...ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Đề nghị truy phong Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Anh hùng dân tộc

(Dân trí) - Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV vừa có thư ngỏ chia sẻ ý nguyện và đề nghị Quốc hội, Nhà nước đặc cách truy phong hàm Nguyên Soái và danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Chia sẻ với phóng viên Dân trí, vị Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho biết đề nghị này xuất phát từ lòng tự hào, kính trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sự ra đi của Đại tướng và lễ Quốc tang của Đại tướng diễn ra mới đây là minh chứng cho sức mạnh của lòng dân, sự suy tôn lớn lao của đồng bào với Đại tướng.
“Sau Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người thứ 2 có sức ảnh hưởng đặc biệt tới toàn thể nhân dân Việt Nam. Trái tim của Đại tướng ngừng đập nhưng gần 90 triệu trái tim của đồng bào cả nước đã hòa cùng một nhịp và xích lại gần nhau để cùng hướng về Người.” - Trung tướng Thước bày tỏ.
Nói về lí do đưa ra đề nghị Quốc hội và Nhà nước đặc cách truy phong hàm Nguyên soái và danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Thước cho biết, có những nước phong hàm Nguyên soái cho lãnh đạo quân sự cấp cao nhất và đặc biệt nhất của đất nước họ, nhưng ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở hàm Đại tướng. Trong khi đó, ở thời kỳ chiến tranh thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người mang hàm cao nhất, nhưng đến khi hòa bình xét theo vị trí công tác và năm công tác thì có nhiều người đã được phong hàm Đại tướng.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước
“Hôm nay nhân dân hướng về Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng tất cả tình cảm thiêng liêng và đặc biệt nhất, nhưng hàng trăm năm sau, hàng nghìn năm sau liệu điều đó có còn trường tồn nguyên vẹn như ngày nay? Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị lãnh tụ về quân sự chứ không chỉ là một bậc thiên tài quân sự, vì thế để thể hiện sự kính trọng và mãi mãi suy tôn Người thì Quốc hội và Nhà nước ta cần có đặc cách truy phong hàm Nguyên soái và danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp.” - Trung tướng Thước nhấn mạnh.
Theo Trung tướng Thước, việc đặc cách truy phong hàm Nguyên Soái và danh hiệu Anh hùng dân tộc cũng giống như việc đặc cách tổ chức Quốc tang cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bởi xét theo quy định thì Quốc tang chỉ dành cho nguyên thủ quốc gia, nhưng Đại tướng lại không nằm trong danh sách nguyên thủ. Vì vậy, khi Đảng và Nhà nước quyết định tổ chức tang lễ theo nghi thức Quốc tang cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp là đã tạo được lòng tin trong nhân dân và hiểu được lòng dân. Đề nghị truy phong hàm và danh hiệu cho Đại tướng cũng là ý nguyện của lòng dân.
Dưới đây là phần trích đăng bức thư của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước với những chia sẻ về tâm tư, tình cảm và đề nghị truy phong hàm Nguyên Soái, danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Đại tướng Võ Nguyễn Giáp:
“… Tôi nhớ lại trong những năm 90 của thế kỷ 20, trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội cũng như ngoài quân đội đã nhiều lần đề nghị Đảng, Nhà nước phong hàm Nguyên soái cho Đại tướng. Lúc bấy giờ ý kiến chỉ đạo là Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ có hàm đến cấp Đại tướng nên không thực hiện được.
Nay Đại tướng đã trở thành người thiên cổ, cũng như lúc còn sống, Người không đòi hỏi gì cho bản thân. Nhưng qua những ngày Quốc tang Đại tướng, chúng ta thấy rõ qua lòng dân rằng phải có một danh hiệu xứng đáng với vai trò và cống hiến của Đại tướng, điều đã được thể hiện cụ thể, chi tiết trong bài điếu văn tại lễ truy điệu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị lãnh tụ quân sựĐại tướng Võ Nguyên Giáp - vị lãnh tụ quân sự của nhân dân Việt Nam
Theo nguyện vọng chung là những gì mà lúc Đại tướng còn sống, chúng ta chưa làm thì nay đến lúc Đảng - Nhà nước - Nhân dân cần làm... Ý kiến chung qua phản ảnh thì Đảng - Nhà nước mà trực tiếp là Quốc hội theo quyền hạn của mình cần có quy định truy phong đặc cách hàm Nguyên soái và danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Đại tướng để thể hiện ông là người lãnh đạo quân sự cao nhất dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ.
Cha ông ta ngày xưa cũng đã từng phong danh hiệu Anh hùng dân tộc cho Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung thì thời đại Hồ Chí Minh truy phong cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp hàm và danh hiệu đó là vô cùng xứng đáng, hợp lòng dân và ý Đảng, tạo động lực, sức mạnh của sự cố kết, dời non lấp biển của cả dân tộc.
Trước đây có ý kiến luật và quy định không làm khác được, nhưng Quốc hội làm ra luật và có thẩm quyền sửa luật nếu luật không thuận với lòng dân. Nay lòng dân đã rõ, lúc này lòng dân còn cao hơn cả luật, bởi luật đúng nhất là luật đi vào được lòng dân. Quốc hội của dân có đủ thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung khi mà lòng dân đã thuận và thuận theo lòng dân thì luật mới có sức mạnh, như vậy Nhà nước lại càng được sự đồng thuận của dân.
Trên tinh thần đó, thể theo ý nguyện nhiều tầng lớp nhân dân mà tôi tiếp cận được, mong rằng Đảng, nhà nước trên tinh thần “của dân, vì dân” làm toại nguyện lòng dân. Được lòng dân là được tất cả. Kỳ họp Quốc hội sắp tới chắc sẽ có phút mặc niệm Đại tướng và sau đó nếu có một phiên họp để xem xét nhanh chóng những đề xuất này thì tin rằng đây sẽ là một kỳ họp để lại dấu ấn sâu sắc đối với toàn dân, thực sự đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân.”.
Châu Như Quỳnh

BÀI HAY TRÊN CỦA BẠN Ở TRANG FACEBOOK

Viet LgkkDuc Nguyen Minh được đánh dấu trong hình ảnh của Chánh Thu. — với Trieu Hai6 người khác.

CHẢI TÓC CHO VỢ
(Tặng em nhân ngày 20/10)

Chiều chiều chải tóc cho em
Lòng nao nao thấy sợi đen ít dần
Em tham lo chữ tảo tần
Cũng đành cam chịu tấm thân hao mòn...
Tôi chăm lo chữ vuông tròn
Lắm khi em phải héo hon đợi chờ...

Cuộc tình đang chín trang thơ
giữa mùa hạ ấy ai ngờ mất em
Chiều chiều bóng ngả bên thềm
Tay cầm lược cũ ruột mềm như dưa...

TÀU NHẬT BẢN THĂM CẢNH ĐÀ-NẴNG

Cận cảnh vẻ dũng mãnh tàu Tự vệ biển Nhật Bản ở Đà Nẵng

(TNO) Sáng 19.10, tại Cảng Tiên Sa, UBND TP.Đà Nẵng tổ chức lễ đón đoàn ba tàu tự vệ biển của Nhật Bản cùng 750 sĩ quan và thủy thủ trong chuyến thăm hữu nghị thành phố.

Ghé Đà Nẵng lần này là 2 tàu huấn luyện JDS Kashima (TV3508) và Shirayuki (TV3517) cùng tàu hộ tống Isoyuki (DD127) do Chuẩn Đô đốc Fumiyuki Kitagawa làm chỉ huy.
Sau lễ đón, chỉ huy đoàn tàu tự vệ biển Nhật Bản đã đi chào xã giao UBND TP.Đà Nẵng, Bộ tư lệnh Quân khu 5, Bộ tư lệnh vùng 3 Hải quân.

Đón sĩ quan, thủy thủ Nhật Bản tại Cảng Tiên Sa
Trong thời gian này, sĩ quan và thủy thủ Nhật Bản sẽ cùng Hải quân Việt Nam thi đấu giao hữu bóng đá, bóng chuyền, trao đổi chuyên môn huấn luyện cứu hộ, cứu nạn trên biển vào trưa ngày 21.10 trước khi rời Đà Nẵng.
Tàu huấn luyện JDS Kashima có trọng lượng nước rẽ 4.050 tấn, dài 143 m, rộng 18 m cùng mức mớn nước 7 m và tốc độ 25 hải lý/giờ.
Tàu huấn luyện Shirayuki và tàu hộ tống Isoyuki cùng thông số kỹ thuật: trọng lượng 2.950 tấn, dài 130 m, rộng 13,6 m, mớn nước 8 m, tốc độ 30 hải lý/giờ.
Cả ba tàu đều được trang bị khí tài cùng trang thiết bị hàng hải hiện đại.
Trước đó, tháng 3 vừa qua, máy bay của Cảnh sát biển Nhật Bản đã đáp xuống TP.HCM và giao lưu với Cảnh sát biển vùng 3 Việt Nam tại TP.Vũng tàu và đến 30.7 tàu Cảnh sát biển Nhật Bản Kojima (PL 21) cũng đã đến thăm TP.Đà Nẵng.
Đây là những hoạt động trong năm Hữu nghị Việt - Nhật và kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tàu huấn luyện Shirayuki (TV3517) tiến vào Cảng Tiên Sa

Bộ đôi tàu huấn luyện Shirayuki (TV3517) và tàu hộ tống Isoyuki (DD127)
 
 
 
 
 

Một số trang thiết bị và khí tài hiện đại trên các tàu

Tin, ảnh: Nguyễn Tú - Văn Tiến

NHỮNG ĐỨA BÉ "ĐẺ CHUI" TRONG "XÓM NỔI" DƯỚI CHÂN CẦU LONG-BIÊN


Những đứa bé đẻ 'chui' sống dưới chân cầu

Cha mẹ của lũ trẻ ở xóm nổi là những người vô gia cư dạt về trú chân ở vũng nước tù đen kịt ở bãi giữa sông Hồng (Hà Nội). Các em nhỏ sinh ra chẳng được làm giấy khai sinh, đa số chỉ học hết cấp một.
>> Ngày mai, miền Bắc hết lạnh
>> Giá vàng tăng lên 37,4 triệu đồng/lượng
>> Bãi vàng sạt lở, chết 12 chỉ báo cáo... 2
Xóm nổi (thuộc tổ 7, cụm 2, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội) nằm sâu trong bãi giữa sông Hồng, ngay dưới chân cầu Long Biên. Nơi đây là nhà của 20 hộ dân, dựng trên sông với các tấm ván bắc qua bờ làm đường đi, nên có tên là xóm nổi. Đàn ông, đàn bà tìm đến với nhau, nên duyên vợ chồng, cho ra đời những đứa trẻ với cuộc đời cũng chìm nổi, vô định như cuộc đời của cha mẹ chúng.
Những em nhỏ sống dưới chân cầu Long Biên. Ảnh: Quỳnh Trang.
Để đi vào xóm phải qua những con đường nhỏ, ngoằn ngèo, hai bên ngập rác rưởi và hôi thối. Những ngôi nhà tạm bợ bằng ván ép. Các gia đình thắp sáng bằng bình ắc quy và sinh hoạt bằng nước sông xung quanh.
Bên ngoài một căn nhà ọp ẹp, đám trẻ chừng 4-5 tuổi đang chơi đùa với những món đồ chơi tự chế. Chốc chốc, mẹ của chúng, đang trùm chăn ngủ giữa nhà, lại nhỏm dậy, cầm chiếc roi vụt vào chân các em, cùng với những câu mắng tục.
Hầu hết những đứa trẻ sinh ra trong xóm không có giấy khai sinh, một số em là con ngoài giá thú. Cậu bé Ben, 3 tuổi, có anh chị đã lên 6-7 tuổi mà vẫn chưa được đi học vì nhà nghèo và không có giấy khai sinh. Hôm nay là ngày mẹ cậu sinh em thứ tư, cậu phải ra ngoài hàng nước ngồi chơi với bác hàng xóm. "Khổ, chị ấy toàn ăn mì tôm mà đẻ con cũng được 3,4 kg, bây giờ đang cố xoay tiền để nộp cho bệnh viện, anh chồng đi đâu mất hút suốt mấy hôm nay rồi", bà Phượng, hàng xóm của nhà Ben, chia sẻ.
Các căn nhà ở bãi giữa sông Hồng dưới chân cầu Long Biên đều tạm bợ. Đường đi từ bờ vào nhà chỉ là những miếng gỗ chắp vá. Ảnh: Quỳnh Trang.
Trong căn chòi dùng để trông vườn chuối thuê cho hợp tác xã và cũng là nhà ở, ông Nguyễn Đăng Được, 67 tuổi, tổ trưởng xóm nổi, trầm ngâm: "Ở đây có 20 hộ, hơn 70 nhân khẩu và 21 đứa trẻ được sinh ra trong xóm đều không có giấy khai sinh vì bố mẹ chúng chỉ sống với nhau, không đăng ký kết hôn. Một số trường hợp không có tiền nộp bệnh viện, không có giấy chứng sinh nên cũng không làm được giấy khai sinh".
Lớn lên, lũ trẻ được đi học ở trường Tiểu học Nghĩa Dũng, được miễn học phí. Xong cấp một, muốn lên trung học cơ sở, nhà trường yêu cầu bố mẹ chúng phải có giấy khai sinh. Bố mẹ đành cho con nghỉ học. Bọn trẻ xóm nổi đứa học cao nhất chỉ hết lớp 7, số còn lại mới ở cấp tiểu học để xóa mù chữ. Khi trưởng thành, các em cũng đi lao động như cha mẹ, có người trôi dạt, lang thang không về xóm nữa.
"Chúng tôi cũng muốn cho con đi học nhưng nghèo quá. Không có công việc ổn định, nhiều lúc tiền trăm trong người còn không có, lấy đâu ra tiền cho con đi học", một phụ nữ trong xóm tâm sự.
Những em bé sinh ra trong xóm nổi nghèo dường như ý thức được hoàn cảnh của mình nên rất ngoan và nghe lời. Mới 3-4 tuổi, các em đã có thể tự ăn cơm, học bài, tắm rửa. Không được đi học mẫu giáo, các em chỉ loanh quanh ở nhà và bắt đầu tự tập viết những con chữ đầu tiên bằng bút chì trên vở ô ly.

Quỳnh Trang

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

NHÂN NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM 20/10/2013




 
CHÚC MỪNG PHỤ NỮ VIỆT NAM
          CÀNG NGÀY CÀNG ĐẸP DỊU DÀNG HƠN XƯA !

NGƯỜI TIÊU BIỂU CHO NỀN HỌC THUẬT CỦA CHẾ ĐỘ MỚI

Người tiêu biểu cho nền học thuật của chế độ mới

- Sau khi thế hệ các giáo sư thời trước vì các lí do chính trị rời khỏi các giảng đường đại học, nhiệm vụ xây dựng nền học thuật đại học mới đặt trên vai một loạt các nhà khoa học đầy tài năng.
Đó là các nhà sử học như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn…, các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản…, các nhà nghiên cứu văn học như Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Lê Đình Kỵ, Huỳnh Lý, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Chính…
Thế hệ trẻ hơn như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba,… Họ là những người vừa tự học, vừa đặt nền móng cho hệ thống học thuật trong các trường đại học của chế độ mới.
Trong số đó, giáo sư Đinh Gia Khánh là người đặt nền móng cho khoa văn học dân gian và văn học cổ.
phê bình văn học, GS Trần Đình Sử, GS Đinh Gia Khánh

Cuộc đời học thuật của ông rất tiêu biểu cho thế hệ các nhà trí thức yêu nước đương thời.
Học dở dang thì nghe theo tiếng gọi núi sông ra đi kháng chiến. Tham gia ngành giáo dục từ thấp đến cao, suốt đời tự học và trưởng thành cùng chế độ.
Thời kì mà GScho công bố các công trình cơ bản của mình cũng chính là lúc GS Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Bộ đại học và sự ra đời của nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp. Đó là lúc sự nghiệp đào tạo đại học nước ta đạt đến cực thịnh trong điều kiện chiến tranh.
Đặc điểm của thế hệ học giả này là nồng nàn yêu nước, nắm vững và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối văn học nghệ thuật của Đảng Cộng sản, giàu tinh thần chiến đấu chống các tư tưởng thực dân và tư sản, các tư tưởng xét lại.
Mặc dù ông vốn là giáo sư dạy tiếng Anh, thông thạo tiếng Pháp, song các tài liệu, học thuyết tư sản phương Tây rất ít khi được ông sử dụng mà thường là đối tượng phê phán. Tư liệu trích dẫn của ông ngoài Mác, Ăng ghen, Lên nin, Nghị quyết, là Gorki và một số nhà folklore xô viết. Tuy vậy, ông đã cố gắng vượt qua dần dần sự hạn hẹp thế giới quan của mình để xây dựng nền tảng học thuật.
Đặc điểm nổi bật của giáo sư Đinh Gia Khánh là ông là người học rộng, uyên bác.
Ông không chỉ làm chủ toàn bộ các tư liệu, thành quả nghiên cứu văn học dân gian rất phong phú của người đi trước và các học giả đương thời, mà ông còn làm chủ cả khối tư liệu văn học thành văn, từ chữ Hán đến chữ Nôm.
Tự bản thân ông tham gia dịch thuật Lĩnh Nam chích quái, phiên âm, chú thích Thiên Nam ngữ lục dài trên 8000 câu lục bát, soạn sách Truyện hay nước Việt, chủ biên tập Hợp tuyển thơ văn Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII do ông viết Lời giới thiệu (1962). Ông là người khởi xướng, chủ biên bộ lịch sử văn học Việt Nam, gồm Văn học dân gian (1972), Văn học trung đại, gồm Văn học Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII cùng với các đồng nghiệp Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1978), và tập Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX do Nguyễn Lộc viết, được tái bản nhiều lần.
Ông cũng là người đề xuất và làm chủ tịch Hội đồng biên tập bộ sách Tổng tập văn học Việt Nam đồ sộ bậc nhất, gồm 42 tập, coi như một tập đại thành toàn bộ thành tựu nghiên cứu văn học Việt Nam dưới chế độ mới. Nhờ thế mà ông nổi hẳn lên so với nhiều đồng nghiệp khác ở tầm nhìn xa và tầm bao quát.
Đinh Gia Khánh là người chứng kiến bước trưởng thành vượt bậc của ngành nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam cũng như ngành nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam.
Trước Cách mạng tháng Tám, trước sự xâm lăng của văn hóa và văn học Pháp, các trí thức yêu nước Việt Nam khởi đầu sưu tầm, nghiên cứu và phác thảo lịch sử văn học Việt Nam cùng các thể loại văn học dân gian Việt Nam. Các công trình văn học sử của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, Bùi Hữu Sủng, Kiều Thanh Quế, Giản Chi… dù rất cố gắng tìm tòi, song do thiếu tư liệu và phương pháp luận cho nên còn nhiều hạn chế.
Nói đến các tuyển tập văn học thì lại càng sơ lược, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thưởng lãm và học tập ở trình độ trung học. Tác phẩm của các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đều chưa được phát hiện và phiên dịch.
Sau năm 1954 một nhu cầu viết lại văn học sử dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác, song lúc đầu khó tránh sơ lược, giáo điều và dung tục. Phải gần 20 năm sau, trên cơ sở phiên âm, phiên dịch, bổ sung tư liệu, đẩy mạnh sưu tầm văn học dân gian người Việt và các dân tộc thiểu số, bấy giờ mới có điều kiện nhìn lại văn học sử cũng như văn học dân gian một cách khoa học và hệ thống.
Ông là người hệ thống hóa văn học dân gian Việt Nam và đưa nó dần sang quỹ đạo văn hóa dân gian.
Tôi nghĩ, trước năm 1945 nước ta chưa có thuật ngữ văn học dân gian, mà chỉ có thuật ngữ văn học truyền khẩu, văn học bình dân. Các sách của các học giả như Giản Chi, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ đều chưa có khái niệm văn học dân gian nói chung, họ chỉ trình bày một số thể loại. Văn học dân gian là thuật ngữ Trung Quốc xuất hiện từ sau thời Ngũ Tứ 1919, nhưng nội hàm vẫn không ổn định.
Ở họ từ Kinh Thi đã là văn học và cho đến nay vẫn là một bộ phận quan trọng của Văn học Tiên Tần. Cái khái niệm lục nghĩa: phú, tỉ, hứng, phong, nhã, tụng làm cho nó văn học hóa và có lẽ Việt Nam tiếp thu khái niệm ấy từ sau năm 1950. Tất nhiên khái niệm văn học dân gian của các học giả Trung Quốc hiện đại rất phát triển, nhưng hồi xưa cũng còn thô sơ, chưa phân biệt với văn học thông tục, văn học bình dân. Giáo trình Đại học Sư phạm năm 1961 nói đến văn học dân gian chỉ nói đến bắt nguồn từ lao động, phản ánh đời sống nhân dân, tính giai cấp…
Có lẽ bắt đầu từ giáo sư Đinh Gia Khánh mới nhấn mạnh đầy đủ tính nguyên hợp và các tính chất khác và chuyển dần sang văn hóa dân gian theo thông lệ quốc tế, nhưng vẫn giữ tính chất nghệ thuật ngôn từ dân gian, lấy đó làm cái cốt của văn học dân gian. Và hướng mở rộng này đã làm cho nghiên cứu văn hóa dân gian phát triển mạnh mẽ như ngày nay.
Về nghiên cứu văn học dân gian ông cũng là người quan tâm nghiên cứu so sánh qua tác phẩm Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (1968) và công trình Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (1993). Đó là những bước mở đầu rất đáng quý.
Về văn học viết Việt Nam trung đại, ông là người có cái nhìn bao quát trong bài lời nói đầu tập Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XVII có tên Vài nét về văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII đã trình bày cụ thể tình hình phát triển của thể loại và tác phẩm văn học cụ thể.
Trong Phần Mở đầu: Mười thế kỉ của tiến trình văn học Việt và viết 15 chương sách trên tổng số 24 chương của cuốn giáo trình năm 1978.
Đặc điểm nổi bất của giáo trình của Đinh Gia Khánh là sự phân tích cặn kẽ tình hình xã hội, điều kiện lịch sử, sự phân hóa giai cấp từng thời kì, mô tả tình hình trạng thái văn hóa xã hội, bao gồm tổ chức chính quyền, tổ chức việc học, các giai cấp xã hội các tôn giáo, các học thuyết thẩm thấu vào nhau, rồi sau đó mới đi sâu phân tích các tác phẩm văn học cụ thể như là sự phản ánh tinh thần của thời đại.
Thiếu một vốn tri thức bậc thầy thì khó mà làm được các yêu cầu đó. Trong suốt thời trung đại, điều ông thấm nhuần nhất là ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian đối với sự hình thành và phát triển của văn học viết Việt Nam và khi phát triển văn học viết ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian.
Có thể nói đó là sự vận dụng đến mức mẫu mực của phương pháp nghiên cứu mác xít đương thời với ý thức duy vật rất tỉnh táo, tính chiến đấu chống mê tín, dị đoan rất cao, sự quán triệt các chỉ đạo của các văn kiện của Đảng rất chặt chẽ. Chỉ trong phần mở đầu của cuốn giáo trình đã có bốn trích dẫn văn kiện, mà đến thời Đổi mới, khi tái bản các phần đó đã được tác giả lược bỏ theo tinh thần Đổi mới (1998). Toàn bộ công trình khoa học của giáo sư phần lớn đều hoàn thành trước thời kì đổi mới, khi sự giao lưu học thuật Đông Tây còn có nhiều hạn chế, tất khó tránh khỏi các hạn chế lịch sử. Các hạn chế ấy, các học trò của giáo sư sẽ bù đắp, nhưng địa vị mở đầu của giáo sư là rất to lớn.
Giáo sư Đinh Gia Khánh còn là người tôn trọng các quy phạm khoa học.
Trong nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học trung đại, ông cũng như các nhà nghiên cứu khác chọn cách tính mốc bằng thế kỉ, mà không chọn các mốc theo triều đại như văn học Trung Quốc hay Nhật Bản. Các học giả Miền Nam cũng xét văn học trung đại theo “lịch triều”. Ví dụ, bộ văn học sử nổi tiếng của Phạm Thế Ngũ có hai phần: Phần văn học truyền khẩu và phần văn học lịch triều. Cách tính mốc thế kỉ chó thể cho ta cái mẫu số chung để xem văn học Việt Nam trong bối cảnh thế giới. Đó là điều mà bộ Lịch sử văn học thế giới của các học giả Nga đã làm. Theo cái mốc đó ta có thể thấy vào thế kỉ XV, khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập, ghi dấu sáng tạo văn học bằng ngôn ngữ dân tộc thì cũng là lúc Dante viết Thần khúc bằng tiếng Ý, Chause viết bằng tiếng Anh và Grimenhausen sáng tác bằng tiếng Đức. Tính mốc thế kỉ có giá trị so sánh khi xét văn học Việt trong bối cảnh thế giới.
Cách dùng thuật ngữ của giáo sư cũng mang tính mẫu mực. Cho đến lúc bấy giờ trong văn giới ta các khái niệm văn thơ, văn học, văn chương được dùng thay thế nhau coi như từ đồng nghĩa. Bộ sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do Nxb Văn hóa in năm 1962 có thể coi là quy mô nhất, nhưng cái tên Hợp tuyển thơ văn là lặp lại tên sách của Dương Quảng Hàm Việt Nam thi văn hợp tuyển. Nguyễn Huệ Chi chủ biên bộ Thơ văn Lí Trần cũng lặp lại cái tên thơ văn.
Điều thú vị là bìa ngoài cuốn hợp tuyển do Trần Đình Thọ trình bày ghi là Hợp tuyển thơ văn, nhưng bìa trong do Văn Cao trình bày thì lại ghi là Văn học Việt Nam. Tính chất nước đôi trong tên gọi chứng tỏ sự thiếu nhất quán về thuật ngữ.
Sau này khi đề xuất ý tưởng làm bộ Tổng tập văn học Việt Nam, giáo sư Đinh Gia Khánh đã dứt khoát dùng từ văn học. Theo tôi, đó là cách dùng quy phạm, bởi vì tất cả các sách văn học sử Việt Nam từ trước 1945 đều viết là văn học, các tác phẩm đều là văn học, đó là cách gọi chuẩn hóa, quy phạm về mặt thuật ngữ. Văn học đây là từ dịch từ thuật ngữ literature trong tiếng Anh, thông dụng ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Một học giả lớn, theo tôi nghĩ, không chỉ có cống hiến nhiều về các phát hiện khoa học, mà còn là người xác lập, tuân thủ các quy phạm khoa học. Riêng mặt này giáo sư cũng là bậc thầy của nhiều thế hệ.
  • GS Trần Đình Sử