Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

HÀNH TRANG NGÀY ẤY CỦA NGƯỜI*

Lên tàu,túi chẳng một đồng xu
Sóng bủa mênh mang,gió mịt mù
Chỉ trái tim vàng sôi máu Việt
Và bàn tay ngọc vẫy mùa Thu !...

Bến Nhà Rồng
6-2011  T.D

*5-6-1911 từ Bến Nhà Rồng,Bác Hồ lên tàu
La Touche Tresville bắt đầu cuộc hành trình
Tìm đường cứu nước đầy khó khăn,gian khổ

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới

(VOV) - “Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt”.
Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết - hòa hợp - thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau…
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết "Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới" đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng.
Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.
Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012. Ảnh: Việt Dũng.
Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng...
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2/9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2/9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân - phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình...
Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam - những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác - bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!
Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN...
Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới... Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp... thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.
Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?
*
Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?
Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm công trình xử lý nước thải thuộc dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Ảnh Giản Thanh Sơn.
Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”... Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”...
Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến - thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia...
Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt...
Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng - Hải Phòng, Văn Giang - Hưng Yên, Vụ Bản - Nam Định... đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động... Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?
*
Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.
Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết - đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam... Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!
Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!
Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.
Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.
Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết - hòa hợp - thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”...
Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ.
Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật... Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay... Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.
Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.
Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!  
Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.
Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính... 
Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng...
Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.
Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!
Trương Tấn Sang
(Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012


  
THU THÁN

Thu rồi vẫn lắm bão giông
Hẳn là thời tiết đã không bình thường
Ai hay làm bẩn môi trường
Là gieo tai họa thảm thương hỡi trời ?!


02h15’ 22-8-2012  T.D

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

VỀ HOA HẬU THẾ GIỚI 2012


Chiến thắng của tân hoa hậu thế giới thiếu thuyết phục?

(VOV) - Luôn đứng ở top giữa ở các phần thi phụ, cùng câu trả lời quá bình thường tại phần thi ứng xử; chiến thắng của Hoa hậu Trung Quốc Vu Văn Hà thiếu thuyết phục đối với khán giả.
Sau đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu thế giới lần thứ 62 diễn ra tại Nội Mông, Trung Quốc vào tối 18/8; rất nhiều khán giả tỏ ra bất bình về việc hoa hậu nước chủ nhà giành được ngôi vị cao nhất.
Hoa hậu Vu Văn Hà năm nay 23 tuổi, cao 1m77, đang là sinh viên ngành âm nhạc và muốn trở thành một giáo viên âm nhạc. Cô cũng được các thí sinh khác trong cuộc thi đánh giá là người hòa đồng, thân thiện.
Tuy nhiên, những gì cô thể hiện trong suốt quá trình Hoa hậu Thế giới diễn ra trong 1 tháng và tại đêm chung kết đã không đáp ứng được kỳ vọng của khán giả. Chỉ giữ được phong độ ổn định tại các phần thi phụ và luôn đứng ở top giữa, Vu Văn Hà không được đánh giá cao bằng các thí sinh đến từ Ấn Độ, Australia, xứ Wales hay Nam Sudan. Mặc dù trước khi giành được danh hiệu cao quý, Vu Văn Hà đã đoạt danh hiệu Hoa hậu tài năng với phần trình diễn bằng giọng ca cao vút và khỏe khoắn như một ca sĩ opera.
Vu Văn Hà tại phần thi Tài năng.
Là một trong những cái tên sáng giá của Miss World 2012, hoa hậu Ấn Độ giành chiến thắng ở hai giải phụ quan trọng là Multimedia Award (giải yêu thích qua mạng xã hội) và Beauty with a Purpose (Hoa hậu Nhân ái). Cô cũng là thí sinh đứng đầu trong top 15. Thí sinh đến từ Nam Sudan cũng được khán giả đánh giá cao về cách ứng xử thông minh trong đêm chung kết. Trước đó, cô cũng đứng đầu tại phần thi phụ Siêu mẫu. Nhưng cả hai thí sinh được đánh giá cao tại top 7 này lại trượt khỏi top 3 một cách đáng tiếc. Còn, Vu Văn Hà, được đánh giá thấp ở top 15 lại bất ngờ dành được ngôi vị sau phần thi ứng xử.
Hoa hậu xứ Wales ở vị trí Á hậu 1, Vu Văn Hà giành được ngôi vị cao nhất, Hoa hậu Australia ở vị trí Á hậu 2.
Trả lời cho câu hỏi chung về phẩm chất mà một Hoa hậu Thế giới cần có; Vu Văn Hà cho biết: “Tôi cảm thấy mình may mắn vì khi còn bé, tôi đã gặp nhiều người giúp đỡ mình. Tôi muốn trở thành Hoa hậu Thế giới để có thể giúp đỡ lại những người xung quanh mình”.
Mặc dù tự nhận là sử dụng tiếng Anh tốt; nhưng, với phần thi này, Vu Văn Hà lại sử dụng tiếng Trung Quốc để trả lời khi các thí sinh khác đều dùng tiếng Anh. Điều này khiến khán giả đặt ra nghi vấn về trình độ tiếng Anh của Văn Hà. Đặc biệt, sau lời giới thiệu của cô tại Miss World có rất nhiều lỗi phát âm.
Có thể giải thích Vu Văn Hà muốn hướng đến những người hâm mộ cô ở quê hương, nhưng câu trả lời hoàn toàn không ăn nhập với câu hỏi khiến tất cả mọi người đều bị hẫng. So với câu trả lời của thí sinh đến từ Nam Sudan: “Là một cô gái nhỏ phải chứng kiến nhiều cảnh thương tâm, nhiều trẻ nhỏ lớn lên không có điều kiện sống và giáo dục cơ bản. Vì thế, tôi khao khát học, khao khát chia sẻ và yêu thương nhiều hơn. Không gì tuyệt vời hơn là làm cho em nhỏ nở nụ cười trên môi. Đó là giá trị mà tôi luôn mong muốn và đó là lý do tại sao tôi có mặt tại đây” - câu trả lời thiếu thuyết phục của Văn Hà khiến mọi người tỏ ra bất bình.
Xét riêng về nhan sắc, Vu Văn Hà cũng không thực sự nổi trội so với 115 thí sinh đến từ các quốc gia khác. Những ảnh chụp ngoài đời của cô rất bình thường, không có gì nổi bật. Những nét Á Đông của cô không sánh được với nét dịu dàng của thí sinh Ấn Độ hay sắc đẹp sắc sảo của Á hậu 2 đến từ xứ Wales.
Vu Văn Hà cùng với Hoàng My
Ảnh chụp của Văn Hà ngoài đời cũng rất bình thường
Không lâu sau khi tên của người đẹp Trung Quốc Vu Văn Hà được xướng lên trong đêm chung kết, một loạt các chủ đề mới đã được mở trên diễn đàn Missosology để bàn luận về tân hoa hậu.
Đa số thành viên diễn đàn đều tỏ ra bất bình khi người đẹp nước chủ nhà đăng quang. Họ cho rằng đây là một kết quả không công bằng và đã được tính toán trước. Những câu hỏi, những lời bình luận ngắn gọn như "Ai có thể nói cho tôi biết vì sao cô ấy lại đăng quang không?", hay "Tôi không bao giờ chấp nhận cô ấy là Hoa hậu Thế giới"... đủ để cho thấy cư dân mạng bức xúc như thế nào.
Vu Văn Hà giành ngôi vị cao nhất khiến cho cộng đồng mạng bức xúc
Ngay cả người trong cuộc cũng không lấy làm vui vẻ sau khi trở về từ cuộc thi. Hoa hậu Thái Lan đã thẳng thắn viết lên trang Facebook của mình những dòng tâm sự gửi tới Ban tổ chức Miss World 2012 rằng: “Cảm ơn đã dạy cho tôi những điều khác biệt. Bây giờ, tôi vẫn còn trẻ nhưng tôi biết thế nào là sự tử tế, đúng, sai, quyền con người và cả những cố gắng. Tham dự Hoa hậu Thế giới lần này, tôi hiểu rằng, đôi khi có thứ còn quan trọng hơn tất cả mọi thứ khác… Nhưng với tôi, thứ quan trọng nhất vẫn là lòng tốt và lẽ phải. Cám ơn lần nữa vì đã dạy cho tôi điều đó”./.

VŨ KHOAN VỚI TƯ CÁCH MỘT CÔNG DÂN TÍCH CỰC

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan:
Làm dân mới được nghe thật lòng
TT - Từng điều hành Chính phủ, nay ông Vũ Khoan (nguyên bí thư Trung ương Đảng, nguyên phó thủ tướng) thường lên tiếng trước những vấn đề “nóng” với tư cách một công dân tích cực và có trách nhiệm với dân với nước.
Trả lời Tuổi Trẻ, ông Vũ Khoan nói:
Ông Vũ Khoan - Ảnh: Nguyễn Khánh 
- Cũng giống như bất kỳ người dân nào, tôi luôn trăn trở với công việc của đất nước và tha thiết mong muốn nước nhà ngày càng phát triển. Hiện nay nước ta đang phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức, đứng trước những bước ngoặt mới, có bình tâm được không? Hơn thế nữa, thế giới đang thay đổi rất nhanh chóng, sâu rộng, vậy VN sẽ định vị như thế nào, làm sao có thể thờ ơ được? Các phương tiện thông tin đại chúng là nơi có thể bộc bạch những điều mình bức xúc nhất với hi vọng đông đảo độc giả, khán giả chia sẻ và những người cần biết sẽ biết thêm một luồng suy nghĩ nữa.
Tôi chọn con đường làm người tự do
* Sau khi rời ghế lãnh đạo, nhiều chính khách thường tham gia các hội nghề nghiệp, còn ông thì sao?
- Tôi chọn con đường làm người tự do. Nhiều hội, trường, viện, các doanh nghiệp trong và cả ngoài nước có mời tôi tham gia hoặc làm “cố vấn” nhưng tôi đều từ chối và trả lời vui rằng “không có gì để được vấn và không dại gì mà cố”.
Thật ra tôi không muốn bị ràng buộc, vả lại thông tin, kiến thức cũng cạn dần, khó bề góp phần thực chất được. Ngay việc tham gia hội thảo, diễn đàn, tôi cũng chỉ chọn cái nào thấy mình thật sự có thể đóng góp được mới tham gia. Tôi dành nhiều thời gian đi giảng bài ở Học viện Ngoại giao và một số lớp, trường khác để truyền lại kiến thức và kinh nghiệm của mình cho các thế hệ sau, đồng thời cũng buộc trí não không lão hóa quá nhanh.
Điều vui nhất là qua các hoạt động đó cảm nhận được niềm hứng thú, không khí đối thoại cởi mở và sôi nổi của các sinh viên.
* So với thời kỳ ông tham gia lãnh đạo Chính phủ, dường như hiện nay ông đã có suy nghĩ thoáng hơn?
"Cái đáng mừng là ai cũng muốn nước ta mạnh giàu lên, mọi người đều bày tỏ sự sục sôi trước những biến động trên biển Đông. Điều đó nói lên rằng dù khó khăn, chật vật nhưng lòng yêu nước của dân ta không hề nguội lạnh!"
Nguyên Phó thủ tướng
Vũ Khoan
- Vạn vật biến động không ngừng. Thời điểm tôi làm trong Chính phủ chưa vấp phải lạm phát cao, sự phát triển kinh tế tuy ẩn chứa nhiều khiếm khuyết nhưng tương đối ổn định, nay tình hình có khác. Chúng ta đang chứng kiến nhiều sự đổi thay khách quan cả ở trong lẫn ngoài nước, nhận thức con người cũng không đứng yên, có thể trước kia chỉ nhận thức được đến đó thôi, nay nhận thức rõ thêm. Vả lại trước kia “làm quan”, dù muốn hay không người dân cũng khó bộc bạch hết nỗi lòng với mình nên không thể biết hết được.
Khi về “làm dân”, có thể tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nên nghe được tiếng nói thật lòng. Có ba yếu tố khách quan như vậy chứ không phải khi về nghỉ rồi thì “đổi gió”, “đổi cờ” gì đâu.
* Xin được hỏi thật: Mọi người đã nói với ông điều gì về những vấn đề quốc kế dân sinh hiện nay? Có điều gì về bộ máy quản lý hành chính các cấp mà trước đây ông chưa được nghe?
- Làm sao kể hết được, ai ai cũng ta thán về khó khăn đời sống và làm ăn, đâu cũng không hài lòng về nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mà gay gắt nhất là sự thất thoát “khủng” ở một số tập đoàn nhà nước. Gặp bà con trồng nhãn lồng nghe than rằng thu hoạch xong chẳng lãi lời là bao, những người lái taxi kêu giá xăng cao và đi đâu cũng cấm đoán, doanh nghiệp kêu trời về lãi suất ngân hàng, thanh niên chất vấn về công ăn việc làm nếu không có “quan hệ”... Phần nhiều chẳng quan tâm mấy đến các câu chuyện cao siêu về sự “ổn định vĩ mô”, “tăng trưởng hợp lý”.
Còn về bộ máy hành chính thì nhiều người ta thán rằng có những việc không thấy bàn tay quản lý của chính quyền địa phương đâu, nhưng nếu người dân cần cái gì thì lại phải “qua nhiều bàn tay”. Vẫn tình trạng “nhà ta ta cứ xây”, “ông quy tắc” có xuất hiện thì chỉ cần “làm việc” là xong, nắp cống mất gần hết, hè đường thì được các “ông phường” cho thuê làm bãi đỗ xe cả...
Có khi chỉ vì một thủ tục hành chính đơn giản nhưng người dân rất vất vả, bị hành hạ. Tôi có bà bạn học, ông chồng là đại tá quân đội chẳng may qua đời mà không khai tử được chỉ vì phường bảo hết tờ khai tử rồi. Lúc bấy giờ Phó chủ tịch Quốc hội Đặng Quân Thụy từng là bạn chiến đấu tới thăm biết chuyện bèn “truy” thì lại được giải quyết! Đó, những chuyện “không thể tin được” vẫn diễn ra hằng ngày, làm người dân rất bức xúc.
Khen hay chê là chuyện bình thường
* Đọc các bài viết của ông, dễ dàng cảm nhận được người viết đang rất nóng lòng trước những bộn bề của đất nước hôm nay?
- Bức xúc lắm mới viết chứ. Viết ra chưa biết độc giả đón nhận thế nào nhưng ít nhất cũng nói lên được tâm tư của mình. Tất nhiên tôi không bao giờ đặt mình vào tâm thế người ngoài cuộc để nói. Năm ngoái tôi có viết bài về vấn đề đầu tư công, đề cập tình trạng đầu tư theo “phong trào”.
Trước khi phân tích căn nguyên của vấn đề và gợi ý giải pháp, tôi đã bộc bạch rằng: “Viết bài này, tôi không nghĩ mình là người ngoài cuộc mà phần nào đó còn là một “tội đồ”, vì từng tham gia điều hành Chính phủ nhưng bản thân chưa nhận thức được đầy đủ tình hình và chưa đóng góp hữu hiệu vào việc hạn chế, ngăn chặn tình trạng hao công tốn của đó”.
* Vậy khi được nghe nói thật thì ông thường xử lý thông tin như thế nào để đưa vào bài viết của mình?
* Ông từng nói rằng hiện nay ông có ba việc thú: một là tiếp xúc với thanh niên, sinh viên; hai là dự các cuộc hội thảo khoa học và ba là tiếp xúc với các doanh nghiệp. Những cuộc tiếp xúc đó giúp điều gì cho ông?
- Qua các cuộc tiếp xúc ấy có thể cảm nhận được hơi thở cuộc sống. Trước kia đi họp trịnh trọng ngồi trên đoàn chủ tịch, nhiều khi phải nghe những câu khuôn sáo, dù muốn cũng không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp, nghe được những tâm tình sâu kín nên không cảm nhận được. Nay thì nghe được nhiều điều tâm tình thực.
Các bạn trẻ bây giờ rất thông minh, có kiến thức rộng và suy nghĩ táo bạo, thế hệ chúng tôi thời còn trẻ không được như thế. Một điểm rất khác nữa là các bạn trẻ ngày nay rất mạnh dạn, bộc trực. Những cuộc tiếp xúc đó còn cung cấp cho mình nhiều thông tin sống động và bồi bổ cho mình nhiều kiến thức mới mẻ.
- Tôi thường cố thẩm định xem những điều người ta nói là cá biệt hay phổ biến rồi đối chiếu với các văn kiện xem có “khớp” không, sau đó nêu ý kiến đề xuất tại các cuộc hội thảo, họp hành và nếu tiện thì viết bài.
* Với những bài viết của mình mà được xuất phát từ suy tư của người dân bình thường, ông thấy độc giả đón nhận và phản hồi như thế nào?
- Thật khó tự đánh giá, vả lại bạn đọc ở khắp mọi nơi, làm sao mình biết được hết? Tuy nhiên cũng có những ý được hưởng ứng như vấn đề về đầu tư theo “phong trào”, tái cấu trúc kinh tế, sử dụng nhân tài, nhiệt huyết và sự tỉnh táo trong quan hệ quốc tế, trong ngoại giao khó có được chuyện “hậu sinh khả úy”... Nhiều người đã trực tiếp gặp, bày tỏ đồng tình, còn những người không tán thành chắc không ít nhưng có lẽ thấy “tế nhị” nên không nói thẳng với mình.
* Ông nghĩ sao nếu có độc giả chê bài viết của “nhà báo Vũ Khoan”?
- Điều đó là rất bình thường, không như vậy mới lạ! Ngay trong gia đình cũng ít khi đồng thuận hoàn toàn nữa là trong xã hội.
Tôi chỉ xin hai điều: Một là, tôi không phải là nhà báo, những bài viết chỉ là bộc bạch “ý kiến bạn đọc” mà thôi, có chê trách gì xin không lấy thước đo áp dụng với nhà báo; còn những ý kiến chia sẻ có người đồng tình, có người không là lẽ tự nhiên. Hai là, xin không gắn với các cương vị cũ của tôi, nay tôi chỉ là thường dân, hãy suy xét như ý kiến của một người dân.
* Theo ông, đâu là nguyên nhân chính khiến những bức xúc trong xã hội từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ chậm được giải quyết?
- Cơ chế trách nhiệm không rõ. Cái gì cũng đổ cho người khác và ai làm gì cũng chả làm sao. Cái đó mà không giải quyết được thì bộ máy sẽ còn như thế. Bao giờ người cán bộ, công chức ý thức thật sự rằng người dân đóng thuế để nuôi anh, giao cho anh làm nhiệm vụ đó mà anh không hoàn thành thì phải bị nghiêm trị, nếu chỉ “kiểm điểm, rút kinh ngiệm” chung chung thì chẳng bao giờ lập lại được trật tự trong bộ máy.
* Làm thế nào để sửa đổi được cơ chế trách nhiệm?
- Cơ chế do con người làm ra, tất cả đều trong tay chúng ta, vấn đề là có quyết tâm chính trị để làm không. Tôi thấy Quốc hội lần này có cái rất hay là xem xét việc bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm đối với những người được Quốc hội bầu và phê chuẩn. Việc này rất đáng được hoan nghênh, nếu làm được thì buộc cán bộ ngay ở cấp cao phải tăng cường trách nhiệm hơn nữa trong công việc chung, từ đó tạo ra sự chuyển động tích cực của toàn bộ hệ thống.
VÕ VĂN THÀNH thực hiện

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

NHÀ THƠ GẶP RẮC RỐI VÌ THƠ

Về bài thơ đang là điểm nóng của thời sự văn học cả nước. Bình thơ: Đọc bài thơ " Lời Những Cây Dầu Cổ Thụ Ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân" của Đàm Chu Văn_ Bùi Công Thuấn. Tường thuật "Nhà thơ gặp rắc rối vì... thơ"
04:10 19 thg 8 2012Công khai9 Lượt xem 0

                                                                                          Hình :
báo Tuổi Trẻ
tạp chí TIẾNG QUÊ HƯƠNG: Sau khi TQH đăng bài thơ "GỞI ĐÀM CHU VĂN VÀ  NHỮNG CÂY DẦU TRƯỚC TRỤ SỞ ỦY BAN ..."(*) của nhà thơ Đào Thanh Chương ,  nhiều độc giả vào xem và yêu thích bài thơ, nhưng một  số độc giả thì  thắc mắc về tựa đề bài thơ ,  số đông độc giả thì biết rằng  "Lời Những Cây Dầu Cổ Thụ Ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân" của Đàm Chu Văn là  bài thơ đang là điểm nóng của thời sự văn học: nhà thơ được Ban tuyên giáo tỉnh ủy Đồng Nai mời đến đối thoại , được giới báo chí , văn học quan tâm bàn luận và gây xôn xao dư luận trong giới  yêu văn chương cả nước . Tạp chí giới thiệu với bạn đọc bài thơ nầy và LỜI BÌNH bài thơ  của nhà nghiên cứu phê bình , nhạc sĩ    Bùi Công Thuấn  cùng bài tường thuật ngắn gọn về diễn tiến sự kiện "Nhà thơ gặp rắc rối vì... thơ" của TRẦN NHÃ THỤY, PV báo Tuổi Trẻ. Mời quí vị thưởng lãm .

 
Văn bản :

Đàm Chu Văn.

Lời Những Cây Dầu Cổ Thụ Ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân DânĐàm Chu Văn.
Tuổi ta nhiều hơn tuổi các uỷ ban
bao nhiêu lượt mùa xuân về không nhớ nữa
những toà nhà cao tầng có thể cao hơn ta nhưng vẫn cần sự che chở của ta
ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ
ủ thời gian trong xạc xào tiếng lá
ủ niềm vui, nỗi buồn những sớm nắng chiều mưa…
sông Đồng Nai dâng tuần tự nhịp mùa
trong tầng tầng nước kia có hàng triệu giấc mơ thao thức
ta nghiêng vào sóng nước
nước tràn lên ta vô tận thời gian
nghiêng vào mênh mang
mênh mang nói với ta bằng lời của nắng
thuở nai, mễn đan đàn ran suối vắng
“tác…tác” gọi bạn tình náo nức nhịp rừng sôi
lặng như cây cũng muốn góp lời
có một cánh bướm trắng đang đậu
trên ngực ta vụng dại và tin cậy

Một sớm mai thức dậy
hơi phố thị ngạt ứ lồng ngực
những cánh tay xanh cố trỗi vượt lên cao…
Ta phải nghe những mặt nhạt cuộc đời bên ký ức xưa bầu bạn
nơi quản lý và sản sinh những buồn vui, số phận…
những thánh nhân bên cạnh những tầm thường
chợt khát thèm một sớm mù sương
không nhìn rõ mặt người
mơ màng
hi vọng

(Nguồn: báo Văn Nghệ ngày 16-4-2011)


Bình thơ:
Đọc bài thơ
" Lời Những Cây dầu Cổ Thụ ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân" của Đàm Chu Văn.
                                                          Bùi Công Thuấn
 

    Lý thuyết tiếp nhận cho rằng ý nghĩa của tác phẩm là do người đọc cảm nhận từ tác phẩm, nhiều khi ý nghĩa ấy không đồng nhất với ý nghĩa của tác giả gửi trong tác phẩm. Đó là đồng sáng tạo. Tuy nhiên, Umberto Eco nói rằng :” tôi chấp nhận ý kiến cho rằng một văn bản có thể có nhiều ý nghĩa. Tôi không chấp nhận việc một văn bản có thể có bất kỳ ý nghĩa nào”.

    Tác phẩm văn chương là một sinh mệnh hoàn chỉnh.Y nghĩa của tác phẩm nằm trong hệ thống cấu túc và hình tượng nghệ thuật. Những ý nghĩa nằm ngoài cấu trúc hình tượng chính là sự áp đặt, với mục đích ngoài văn chương. Đọc tác phẩm,  phải đặt tác phẩm trong môi trường văn hóa, lịch sử cụ thể của cộng đồng, bởi ý nghĩa của ngôn ngữ, kiểu tư duy, kiểu tiếp nhận là do văn hóa công đồng chi phối. Tuy nhiên, tác phẩm là phát ngôn trực tiếp của tác giả, đọc tác phẩm, trước hết phải hiểu đúng thông điệp tác giả gửi trong tác phẩm, sau đó tìm hiểu những ý nghĩa do hệ thống hình tượng nghệ thuật tạo ra. Tuyệt đối không xuyên tạc hay bóp méo ý nghĩa hệ thống hình tượng, tuyệt đối không được gán cho tác phẩm những ý nghĩa nằm ngoài hệ thống hình tượng.
      Điều này đòi hỏi người đọc phải có trình độ, phải có phương pháp đọc và tâm thế đọc nhất định. Xin thí dụ, học sinh lớp 6 không thể đọc những bài thơ trong Nhật Ký Trong Tù bằng chữ Hán nếu không có thầy cô hướng dẫn. Bởi những bài thơ đó chứa đựng tri thức đông tây kim cổ, chứa đựng vốn sống, tư tưởng, tình cảm và bản lĩnh lớn của một lĩnh tụ Cách Mạng có tầm vóc quốc tế, một người đã vào sinh ra tử đối đầu với những kẻ thù lớn nhất của thời đại (Thực dân Pháp, Đế Quốc Mỹ). Hơn thế, những bài thơ ấy nằm trong thi pháp thơ Đường kết hợp với quan điểm, cách mạng về thơ ca. Vì thế, không thể giải nghĩa tùy tiện Nhật Ký trong Tù. Với bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng thế. Cần khám phá thông điệp nghệ thuật bằng những phương pháp phê bình có cơ sở khoa học, không cảm tính, không chủ quan áp đặt, không vì những mục đích ngoài văn chương, có vậy giá trị thật của tác phẩm mới tỏa sáng
1.Những cây dầu cổ thụ nói gì ?
    Trong bài thơ Lời Những Cây dầu Cổ Thụ ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân, cây được nhân hoá như một con người, quan sát, nghĩ suy, bày tỏ. Ngôn ngữ thơ là kiểu ngôn ngữ giao tiếp đời thường , ý nghĩa bộ lộ trực tiếp, không phải là hệ thống tín hiệu cấp 1 hay cấp 3
Tuổi ta nhiều hơn tuổi các uỷ ban
bao nhiêu lượt mùa xuân về không nhớ nữa
những toà nhà cao tầng có thể cao hơn ta nhưng vẫn cần sự che chở của ta
ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ
ủ thời gian trong xạc xào tiếng lá
ủ niềm vui, nỗi buồn những sớm nắng chiều mưa…
(*)
     Cây độc thoại với chính mình. Cây không nhớ mình đã bao nhiêu tuổi, hiển nhiên là nhiều tuổi hơn các ủy ban. Cây cũng là rừng đại ngàn,  là sự trường tồn của lịch sử trong thời gian, cây cũng là thực tại cuộc sống với niềm vui nỗi buồn.
    Bên sông Đồng Nai, cây nghiêng về bến nước, và đã bao mùa, sông Đồng Nai dâng nước mênh mang. Tác giả tập trung hình ảnh để nói vê cái mênh mông của thời gian mà cây đã sống ở đó.
sông Đồng Nai dâng tuần tự nhịp mùa
trong tầng tầng nước kia có hàng triệu giấc mơ thao thức
ta nghiêng vào sóng nước
nước tràn lên ta vô tận thời gian
nghiêng vào mênh mang
mênh mang nói với ta bằng lời của nắng
    Cây hồi tưởng lại quá khứ hoang dã, thời đại ngàn còn mênh mông là rừng, không khí trong lành, muôn vật sống hạnh phúc, khác hẳn với cuộc sống thành thị hôm nay, ô nhiễm, ngột ngạt
thuở nai, mễn đan đàn ran suối vắng
“tác…tác” gọi bạn tình náo nức nhịp rừng sôi
lặng như cây cũng muốn góp lời
có một cánh bướm trắng đang đậu
trên ngực ta vụng dại và tin cậy
Một sớm mai thức dậy
hơi phố thị ngạt ứ lồng ngực
những cánh tay xanh cố trỗi vượt lên cao
Trở về hiện tại, cây ngẫm nghĩ sự đời, như suy nghiệm triết lý, từ đó cháy lên những mơ  ước, hy vọng.
Ta phải nghe những mặt nhạt cuộc đời bên ký ức xưa bầu bạn
nơi quản lý và sản sinh những buồn vui, số phận…
những thánh nhân bên cạnh những tầm thường
chợt khát thèm một sớm mù sương
không nhìn rõ mặt người
mơ màng
hi vọng

    Hy vọng có một thời như thời xa xưa hoang dã trong lành và hạnh phúc như hình ảnh đại ngàn năm xưa 
     Cụm từ  “Những mặn nhạt cuộc đời,… buồn vui số phận” hoàn toàn có nghĩa chung chỉ chung về cuộc đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết:
Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt bùi…”
      Cuộc đời là biến đổi, và lòng người cũng đổi thay, nhà Phật gọi là lẽ vô thường. Đó là một chân lý lớn (Khổ Đế)
     Trước thực tại thành phố thì ô nhiễm lòng người thì đổi thay, cây cổ thụ mong ước điều gì?
chợt khát thèm một sớm mù sương
không nhìn rõ mặt người
mơ màng
hi vọng
    Thèm một sáng mù sương/ không rõ mặt người. Hình ảnh này diễn tả thời rừng còn bạt ngàn, mỗi buổi sáng sương phủ kín rừng, có khi không thấy mặt người. Tại sao lại thèm khát như vậy, bởi bây giờ rừng đại ngàn không còn nữa, cũng không còn những sáng mù sương. Chẳng hạn, Đà lạt ngày xưa, 9 giờ sáng vẫn còn mù sương, trong khoảng 100m không tỏ mặt người. Bây giờ còn đâu “Đà lạt sương mờ” của thơ và nhạc ngày xưa.
    Như vậy lớp nghĩa thứ nhất, lời của cây, hoàn toàn chỉ là lời của cây, không ngụ ý, không ẩn ý, Cây không phải là nhân vật dụ ngôn, vì thế bài thơ chỉ mượn cây để nói về khát vọng một cuộc sống trong lành, và nhắc nhở mọi người về chân lý quan trọng là con người phải giữ lấy thiên nhiên, giữ lấy đời sống hạnh phúc trong hoàn cảnh môi trường đang bị phá huỷ. Sự sống phải vượt lên.
hơi phố thị ngạt ứ lồng ngực
những cánh tay xanh cố trỗi vượt lên cao
2. Hàm ý của bài thơ là gì?
     Hình tượng chính của bài thơ là Những cây dầu cổ thụ. Hình tượng này có ý nghĩa gì ?
Trong hệ thống cấu trúc của bài thơ thì Những cây dầu cổ thụ là đại ngàn (ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ),. Cây  là nhân dân, bởi nhân dân là vĩnh cửu, nhân dân mới đầm mình trong nắng sớm mưa chiều : ” ủ thời gian trong xạc xào tiếng lá/ủ niềm vui, nỗi buồn những sớm nắng chiều mưa…”
   Tác giả mượn cây cổ thụ để chỉ ra điều này:  khi đại ngàn còn mênh mông, loài vật, con người được thiên nhiên che chở, thì được sống an vui, hạnh phúc.
thuở nai, mễn đan đàn ran suối vắng
“tác…tác” gọi bạn tình náo nức nhịp rừng sôi…
có một cánh bướm trắng đang đậu
trên ngực ta vụng dại và tin cậy
   Và tác giả mơ ước một thời như thế : chợt khát thèm một sớm mù sương/ không nhìn rõ mặt người/mơ màng/hi vọng. Câu thơ này nếu không đặt trong tổng thể cấu trúc bài thơ, thì có thể suy diễn hoàn toàn sai lạc ý nghĩa, nội dung. Rằng tác giả có cái nhìn bi quan, sao lại thèm một không gian mù sương không nhìn rõ mặt người? Phải chăng tác giả sợ lòng người đổi thay, phải chăng tác giả muốn thoát ly, muốn sống trong mơ màng.
    Bài thơ là lời của cây, kiểu trực ngôn, hình tượng cây không là ẩn dụ. Nếu bảo rằng cây là ẩn dụ, thì những nai, mễn, bướm, sông Đồng Nai nước dâng, khói ngạt phố thị là ẩn dụ cho cái gì? Những hình ảnh ấy là chính nó, là thiên nhiên đơn thuần.
    Ngay cả những thánh nhân, tầm thường, những buồn vui số phận là ám chỉ ai? Hay chỉ là chỉ chung những con người, trong mọi thời. Bởi thời nào, ở đâu cũng có thánh nhân và có kẻ xấu xa, ở đâu lại không có những buồn vui số phận. Kinh Thánh cách nay 2000 năm là một minh chứng. Đức Giêsu là thánh nhân, bị đóng đinh cùng với 2 kẻ trộm cướp. Trong 12 môn đồ của Giêsu,  Giuda là kẻ đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc. Đó là chân lý của muôn đời. Như vậy những câu thơ có vẻ như có ám chỉ, cũng chỉ nói cái chân lý đã có trước đó từ lâu lắm rồi. Xin cứ đọc lại thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, và quan sát những con người của thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui
3. Bài thơ đọng lại điều gì ?
      Điều rõ nhất còn lại ở bài thơ là tấm lòng của tác giả với cuộc sống, với con người hôm nay.
sông Đồng Nai dâng tuần tự nhịp mùa
trong tầng tầng nước kia có hàng triệu giấc mơ thao thức
    Hình ảnh sông Đồng Nai trong câu thơ trên vừa là thực (sông Đồng Nai dâng nước ) vừa chứa đựng một lớp nghĩa rộng hơn nghĩa thực. Nói sông Đồng Nai thì cũng đồng nghĩa với cuộc sống của những con người trên sông và hai bên sông, từ thượng nguồn đến cửa biển. Đã có bao lớp người sống, chiến đấu, hy sinh, và “có hàng triệu mơ ước”. Xin cứ đọc Miền Đất Ven Sông  của cố nhà văn Hoàng Văn Bổn và quan sát cụ thể sinh hoạt của nhân dân thì sẽ thấy rất rõ những mơ ước ấy là gì, đã có bao nhiêu số phận, bao nhiêu vui buồn. Tác giả bài thơ thể hiện tâm tình ấy bằng hình ảnh những nai, mễn, bướm sống vui, sống hạnh phúc trong đại ngàn. Cuộc sống chúng ta đang hướng đến là “nước giàu, dân mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Tôi nghĩ bài thơ nằm trong trường tư tưởng ấy. Cái vị đắng có trong bài thơ chỉ là để làm tôn cái vị ngọt của tình thơ và làm sáng lên cái nhìn giàu chất nhân văn mà thôi
    Dĩ nhiên, trong chừng mực nào đó, ngôn ngữ thơ chưa thật giúp cho những tư tưởng tình cảm giàu chất nhân văn ấy  sáng bừng lên,  để soi tỏ cuộc đời. Tuy vậy bài thơ có nhiều tứ thơ đẹp.
ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ
ủ thời gian trong xạc xào tiếng lá
ủ niềm vui, nỗi buồn những sớm nắng chiều mưa…(*)
sông Đồng Nai dâng tuần tự nhịp mùa
trong tầng tầng nước kia có hàng triệu giấc mơ thao thức…

4. Cho cạn nhẽ
    Tôi đã dừng bài viết ở những tứ thơ đẹp của bài thơ, nhưng lại thấy cần nói thêm vài điều về những gì mà người đọc có thể còn lấn cấn. Ấy là nhan đề  : Lời Những Cây Dầu Cổ Thụ Ở Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân. Có hai chi tiết người ta dùng nó để “làm khó” nhà thơ : Chữ “Ta” và cụm từ “ở trụ sở ủy ban”.
    Bài thơ của Đam Chu Văn lấy nhân vật chính làm nhan đề : Những cây dầu cổ thụ. Vì thế mọi thông điệp tác giả gửi trong bài thơ nằm ở nhân vật này. Khi phát ngôn, nhân vật xưng là Ta. Vậy Ta là ai?
Tuổi ta nhiều hơn tuổi các uỷ ban
bao nhiêu lượt mùa xuân về không nhớ nữa
những toà nhà cao tầng có thể cao hơn ta nhưng vẫn cần sự che chở của ta
ta ủ rừng đại ngàn trong từng thớ cây mạch rễ
    Cần lưu ý điều này. Bài Lời Những Cây dầu Cổ Thụ ở Trụ Sở UBND nằm trong thi pháp thơ  kháng chiến. “Cái Ta” trong thơ kháng chiến là nhân dân, là cộng đồng. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp/ Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn/ Ruộng ta khô nhà ta cháy”(Bên Kia Sông Đuống-Hoàng Cầm); “ Khi ta đứng lên cầm khẩu súng/ Ta vì ta ba chục triệu người/ cũng vì ba ngàn triệu trên đời”(Miền Nam-Tố Hữu). Điều này xuất phát từ cách dùng từ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên Ngôn Độc Lập :
     ” Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn
cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.”
     Tôi trích hơi dài là để bạn đọc nhận ra Chủ Tịch Hồ Chí Minh dùng chữ Ta với ý nghĩa rất phong phú. Chẳng ai lại hiểu chữ “Ta” ấy là tác giả HCM, mà hiểu Ta là đồng bào, là nhân dân, là dân tộc. Thơ kháng chiến đã kế thừa cách dùng từ này. Và vì thế chữ “Ta” trong bài thơ Lời Những Cây dầu Cổ Thụ ở Trụ Sở UBND cũng mang ý nghĩa ấy.Ta không phải là “cái tôi” cá nhân tác giả.
      Như tôi đã minh giải ở trên. Những cây dầu cổ thụ được nhân hóa như người, và được miêu tả bằng kiểu ngôn ngữ thực, không ám chỉ, không ẩn dụ. Đó là những cây dầu cổ thụ gắn với đại ngàn, gắn với thời gian mênh mang. Đó là rừng đại ngàn với nai, mễn, với đời sống hoang dã, bình an và hạnh phúc. Đó là đại ngàn gắn với sông Đồng Nai như là nguồn sống. Hay nói bằng ngôn ngữ thời sự, những cây dầu cổ thụ và không gian đại ngàn được vẽ ra chính là thiên nhiên, là môi trường thiên nhiên, đồng thời cũng là những con người sống trong môi trường thiên nhiên ấy, là nhân dân (hàng triệu giấc mơ) trong trường kỳ lịch sử (“bao nhiêu lượt mùa xuân về”). Xin chú ý chữ “mùa xuân” có hàm nghĩa rất hay, bởi lịch sử VN có những mùa xuân rất hào hùng (Mùa xuân của Lê Lợi-Nguyễn Trãi thắng quân Minh 1428, Mùa xuân của Quang Trung chiến thắng quân Thanh 1789, và mùa xuân CM, Đại thắng 1975). Nó cũng gợi ra cái đẹp của cuộc sống và cái nhìn lạc quan tin yêu của tác giả. Bài thơ vừa trữ tình, vừa có cảm hứng sử thi.
     Cụm từ “ở trụ sở Ủy Ban Nhân dân” chỉ được dùng 2 lần, một lần ở nhan đề, một lần ở câu đầu tiên, còn tuyệt nhiên không được nhắc lại trong bài thơ. Nó cũng không được khai thác như một hình tượng chính để chuyển tải tư tưởng (hình tượng chính là những cây dầu). Nói cách khác, đó chỉ là một cụm từ chỉ nơi chốn phiếm chỉ, bởi tác giả không ghi rõ là Ủy Ban Nhân Dân nào : UBND xã hay UBND Huyện hay UBND Tỉnh, và cụ thể là địa danh nào, vì thế, nếu có nghĩa thì đó chỉ là nghĩa chung, không thể áp đặt rằng đó là UBND này hay UBND kia
     Bây giờ xin xác định mối quan hệ giữa những cây dầu với nơi chốn “ở trụ sở UBND” xem , đó là mối quan hệ gì, và hàm nghĩa gì?
      Xin làm một phép thử. Nếu bỏ chữ “ở trụ sở UBND”  đi thì ý nghĩa bài thơ và thông điệp của tác giả trong bài thơ có thay đổi không?, thưa không, bởi mọi nội dung, tư tưởng, thông điệp của bài thơ nằm ở nhân vật chính là những cây dầu, không nằm ở chữ “ở trụ sở UBND”. Chữ “ở trụ sở UBND”  chỉ là một trạng ngữ chỉ nơi chốn, và vì thế nhan đề ấy có thể bỏ chữ “ở trụ sở UBND”, hay thay bằng ở nơi nào đó thì bài thơ vẫn nguyên vẹn nội dung tư tưởng.
    Những cây dầu ấy là nhân dân là môi trường thiên nhiên trong lịch sử, thì tất nhiên nó cao hơn tuổi các ủy ban và cao hơn các tòa nhà cao tầng, nó có sức sống vĩnh cửu. Đó là một chân lý. Điều thú vị là ở chỗ, những cây dầu “ở trụ sở UBND”, không phải ở ven đường, ven sông hay ở trong thảo cầm viên. Bởi UBND là chính quyền của dân, được dân ấp ủ, (điệp từ  ủ) được dân cưu mang và là niềm hy vọng của dân. Lịch sử CM đã đã hiển nhiên chân lý đó : chính quyền CM là chính quyền của dân, do dân, vì dân . Nếu tác giả để cho UBND chặt những cây dầu ấy đi, thì vấn đề sẽ rất trầm trọng, tức là chính quyền lìa dân, chính quyền từ bỏ nhân dân. Cho nên  “những cây dầu cổ thụ ở trụ sở UBND” làm vững chắc hơn tư tưởng về chính quyền cách mạng với nhân dân là một, được dân thương yêu tin cậy. Mọi cách hiểu tách rời UBND ra khỏi nhân dân, đặt nhân dân trong thế đối lập với UBND (UBND với cây dầu cổ thụ) đều là cách hiểu xuyên tạc và không thiện tâm.
    Vì vậy những lời của cây dầu cổ thụ có thể có hai góc độ, đó là lời của nhân dân nói với UBND, cũng là lời của UBND nói với mọi người, bởi cây dầu ở trụ sở UBND, với tư cách là chủ nhân, thay mặt cho UBND, nếu cây dầu nằm ngoài trụ sở UBND thì không thể thay mặt cho UBND được. Dù ở vị trí nào và hiểu theo cách nào, thì thông điệp của bài thơ vẫn rất rõ ràng là tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống sâu nặng của tác giả trong tầm vóc nhân dân và lịch sử, có cảm hứng sử thi. Đồng thời tiếng nói của những cây dầu cổ thụ ấy nhắc nhở mọi người (không chỉ là trách nhiệm của UBND) về trách nhiệm bảo vệ môi trường, trách nhiệm với đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, với những ước mơ và hy vọng. Nói cho cạn nhẽ thì đó là tiếng nói trách nhiệm của tất cả chúng ta.

Tháng 7.2012

Bài này đã gửi cho NS Khánh Hòa (Chủ tịch Hội VHNT Đồng Nai (15.07.2012), sau đó gửi cho tác giả Đàm Chu Văn, và vài bạn văn khác. Nay nhân có bản tin của Tuổi Trẻ và Thanh Niên, BCT công bố bài viết này  để cùng bạn đọc xem bài thơ “có vấn đề “gì. Dù sao góc nhìn của bài viết chỉ là một hướng tiếp cận, mong được bạn đọc cùng chia sẻ. BCT


Nhà thơ gặp rắc rối vì... thơ
    Một cuộc họp khá bất thường với nội dung "đối thoại giữa tác giả bài thơ và những người có quan tâm tới bài thơ Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân" đã diễn ra chiều 13-8 tại Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo (Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai, TP Biên Hòa).

    Tác giả bài thơ là Ðàm Chu Văn - chuyên viên cao cấp Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai kiêm phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) Ðồng Nai, tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Ðồng Nai, còn "những người quan tâm tới bài thơ" là ông Huỳnh Văn Tới (trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai, chủ trì cuộc đối thoại) cùng các lãnh đạo Hội VHNT Ðồng Nai, NXB Ðồng Nai, nhà văn Trần Thu Hằng (tham dự với tư cách phóng viên báo Lao Ðộng Ðồng Nai)...
     Bài thơ Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân của nhà thơ Ðàm Chu Văn đã từng đăng trên báo Văn Nghệ cách đây một năm (số 16, ngày 16-4-2011). Nhưng mới đây (ngày 2-7-2012) nhà văn trẻ Trần Thu Hằng đã gửi đến Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai một lá thư gọi là góp ý kiến (về việc phê bình tư tưởng và việc làm của đảng viên), trong đó có đoạn: "Cảm nhận ban đầu của tôi là bài thơ dùng nhiều từ ngữ hoa mỹ để nói thay một cái cây cổ thụ, song bên cạnh đó lại thể hiện quan điểm chính trị một cách định kiến, ám chỉ khá tùy tiện"... Bên cạnh thư góp ý kiến, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai còn nhận được một "thư kiến nghị" nặc danh xung quanh bài thơ này.
    Trước sự việc như vậy, ngày 10-7-2012 Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai đã có văn bản "đề nghị chủ tịch Hội VHNT Ðồng Nai giao cho bộ phận lý luận phê bình thẩm định về chuyên môn". Nhưng Hội VHNT Ðồng Nai đã không thực hiện được với lý do: "Hội VHNT Ðồng Nai không thành lập được bộ phận lý luận phê bình".
   Trong khi đó, theo báo cáo của Hội VHNT Ðồng Nai, nhân lớp tập huấn công tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật (diễn ra từ ngày 10 đến 13-7-2012 tại TP Biên Hòa), ông Nguyễn Khánh Hòa - chủ tịch Hội VHNT Ðồng Nai - đã tranh thủ lấy ý kiến của ông Nguyễn Hồng Vinh (chủ tịch hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật TƯ). Ông Nguyễn Hồng Vinh sau khi đọc bài thơ và tham khảo đồng nghiệp đã nêu ý kiến: Ý chính của bài thơ lấy hình tượng những cây dầu cổ thụ để ví với nhân dân bao đời, "đây là một bài thơ có tứ tốt, nhưng đôi chỗ còn hạn chế như cách đặt tên bài, cách diễn đạt chùm câu cuối, và vài chỗ trong bài dễ khiến người đọc hiểu theo hướng không có lợi"...
    Gần đây nhất, ngày 8-8, nhà thơ Hữu Thỉnh - chủ tịch Hội Nhà văn VN - trong công văn gửi Ban Tuyên giáo trung ương thì khẳng định: "Ban thường vụ Hội Nhà văn VN khẳng định bài thơ có tư tưởng lành mạnh, tình cảm trong sáng có ý nghĩa khao khát vươn lên tới sự trường tồn của thiên nhiên, của dân tộc"...
    Thế nhưng, "để rộng đường trao đổi chuyên môn", Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai vẫn tổ chức cuộc "đối thoại" xung quanh bài thơ trên trong hơn bốn giờ (từ 13g30 đến hơn 17g30). Quan tâm đến số phận một bài thơ, phóng viên xin được tham dự cuộc "đối thoại" này nhưng ông Huỳnh Văn Tới nêu lý do "cuộc họp mang tính chất nội bộ". Trả lời phỏng vấn sau cuộc họp, khi được hỏi việc tổ chức họp, đối thoại xung quanh một bài thơ hay một tác phẩm văn học có phải là sinh hoạt thường xuyên của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ðồng Nai hay không, ông Tới trả lời rằng sở dĩ có cuộc họp này vì Hội VHNT Ðồng Nai đã không làm tròn trách nhiệm. "Hơn nữa, đồng chí Ðàm Chu Văn là chuyên viên cao cấp của Ban tuyên giáo, nên khi có đơn phản ảnh về một số câu chữ trong bài thơ của đồng chí có vấn đề thì chúng tôi phải xem xét. Chúng tôi chọn hình thức đối thoại để mọi người nêu ý kiến. Hiện chúng tôi không kết luận, cũng không đưa ra hình thức kỷ luật hay phê bình nào cả. Nhưng phải nghiêm túc rút kinh nghiệm của ba phía: tác giả, Hội VHNT và cả cá nhân tôi nữa" - ông Tới nhấn mạnh.
    Kết thúc cuộc họp, nhà thơ Ðàm Chu Văn bước ra với gương mặt bơ phờ, rồi thoắt cái biến mất. Khi liên lạc với ông thì biết ông đã về nhà. Qua điện thoại, nhà thơ tâm sự: "Thật là đáng sợ khi một người làm thơ phải ngồi giải thích mình làm bài thơ này là ý nói cái gì, câu thơ này mang ý nghĩa gì. Nhà thơ có quyền từ chối điều đó, nhưng tôi đã chịu đựng trong cuộc gọi là đối thoại này vì tôi nghĩ mình trong sáng, chân thành. Nghe chuyện này chắc bạn nào mới làm thơ phải khiếp vía. Nhưng tôi, một người làm thơ lâu năm, tuổi đời từng trải, tôi nghĩ mình sẽ tiếp tục làm thơ thôi".
 TRẦN NHÃ THỤY
Nguồn : báo Tuổi Trẻ

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012


Bia “chủ quyền” Trung Quốc không có Hoàng Sa - Trường Sa

Vừa xuất hiện bằng chứng cho thấy chính Trung Quốc sai phạm trong những tuyên bố chủ quyền trên biển Đông.
Trung Quốc đang ra sức sử dụng sức mạnh truyền thông để tuyên truyền bóp méo sự thật về biển Đông nhằm đầu độc dư luận. Tuy nhiên, chính do hành động chiếm đóng phi pháp bằng vũ lực, bất chấp sự thật và luật pháp quốc tế của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam nên các cơ quan truyền thông nước này đã để lộ những sơ hở.
Mới đây, trang tin Sina đăng một bài viết tuyên truyền về hoạt động của Trung Quốc tại cái gọi là “TP.Tam Sa”, được thành lập phi pháp và bao trùm cả Hoàng Sa - Trường Sa. Trong bài viết, Sina đăng lại bức ảnh của Nhân Dân nhật báo chụp bia “chủ quyền” dựng tại bãi đá Chữ Thập thuộc Trường Sa của Việt Nam. Trên bia vẽ một bản đồ Trung Quốc hoàn toàn không có Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, bản đồ này chỉ có 2 chấm nhỏ thể hiện đảo Hải Nam và Đài Loan. Trước đó, các học giả và bạn đọc Việt Nam cũng đã phát hiện nhiều bằng chứng từ bản đồ và trên phim ảnh cho thấy lãnh thổ phía nam của Trung Quốc chỉ kéo dài tới đảo Hải Nam. Nước này hoàn toàn không có quyền lịch sử gì đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả.

Bản đồ trên “bia chủ quyền” của Trung Quốc tại Trường Sa - Ảnh: Nhân Dân Nhật Báo
Gần đây, Trung Quốc liên tục có những hành động mang tính “ỷ mạnh hiếp yếu” đối với Việt Nam và Philippines, gây quan ngại cho cả những bên không tham gia tranh chấp trên biển Đông. Trong tháng 8, Mỹ đã 2 lần ra tuyên bố phản đối sự xuất hiện của “TP.Tam Sa”, đồng thời cảnh báo âm mưu “chia để trị” trong vấn đề biển Đông. Hôm qua, tờ The Washington Post đăng bài xã luận cho rằng Mỹ giữ quan điểm trung lập trong vấn đề biển Đông và kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, nhưng Trung Quốc lại coi đó là một “hành động thách thức” và đòi Mỹ “tôn trọng chủ quyền”. Bài báo nhấn mạnh tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh “mang tính bành trướng” và dựa trên đường 9 đoạn phi lý. Tờ báo kết luận biển Đông đang là khu vực “có nguy cơ” và “mọi người cần đảm bảo rằng nó không trở thành biển chiến tranh”.
Trong một diễn biến khác, Tân Hoa xã dẫn lời thiếu tướng Vương Hải Vận, thuộc Hội Nghiên cứu quan hệ Trung - Nga, nói Trung Quốc cần chế tạo 3-5 tàu sân bay để hỗ trợ hải quân bảo vệ “lãnh thổ biển rộng lớn”, phá vỡ sự ngăn chặn của Mỹ và không để nước khác “dọa dẫm”. Trong bài viết đăng trên tờ The Diplomat, Phó giáo sư James R.Holmes của Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ nhận định nếu Trung Quốc sở hữu 3-5 tàu sân bay thì nước này có thể sẽ cắt cử từ 1 đến 2 chiếc hoạt động ở biển Đông.
Trùng Quang