Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

ÔNG TỔ NGÀNH NGOẠI GIAO VN : CỤ MẠC ĐĨNH CHI

Tác giả cổ Chí linh 18


                                Trần Quý Nha (1)
                                                
               Trần Quý Nha là người xã Điền Trì huyện Chí Linh (nay là thôn Trực Trì xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách). Có thuyết cho rằng ông có thể là Trần Tiến ( ?) Trần Quý Nha là người viết Công dư tiệp ký tục biên trong đó có khá nhiều chuyện viết về "đất và người" Chí Linh cổ. Cụ thể ông đã viết về các nhân vật và địa danh sau đây :
               -Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
               -Thượng thư Nghiêm Sơn hầu Nguyễn Doãn Khâm
       -Hoàng Giáp Đồng hãng
       -Đông các Nguyễn Xuân Quang
       -Trạng nguyên Phạm Duy Trĩ
       -Thượng thư trí sĩ Tuyển Quận công Nguyễn Lễ (Nguyễn Phong)
      -Dương Tồn
      -Thám hoa Thượng thư trí sĩ  Cẩm quận công Nguyễn Thọ Xuân (Nguyễn Minh Triết)
      -Trí sĩ Nguyễn Quang Trạch
      -Lễ phi họ Nguyễn (Bà chúa Sao Sa)
      -Núi Côn Lôn (Côn Sơn)
      -Núi Phượng Hoàng
      -Động Huyền Thiên
      -Sông Lục Đầu.
Dưới đây chúng tôi xin lần lượt giới thiệu những nhân vật chưa từng được giới thiệu, hoặc tuy đã giới thiệu nhưng còn sơ lược

                1. TRUYỆN TRẠNG NGUYÊN HAI NƯỚC MẠC ĐĨNH CHI
                                      (Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi)

               Ông tên chữ là Tiết Phu, người xã Lũng Động huyện Chí Linh 1.Ông là cháu đích tôn Mạc Hiển Tích, Thượng thư triều Lý. Hiển Tích đỗ Tiến sĩ thứ nhất khoa Bính Dần(1068) đời vua Trung Tông và làm quan đến Lại bộ Thượng thư. Đĩnh Chi là cháu đích tôn của Hiển Tích, tục gọi là Tú Sách, vì xã Lũng Động tên tục là Kế Sách.
               Tương truyền làng ông có một cái gò lớn, cây cối um tùm, có nhiều khỉ vượn. Một hôm mẹ ông lên gò kiếm củi, bị một con khỉ đực hiếp. Bà về nói chuyện với bố ông. Bố ông bèn mặc quần áo đàn bà và giắt một con dao sắc lên gò. Khỉ quen thói cứ chực hiếp dâm, thì bị bố ông dùng dao chém chết. Sáng hôm sau ra xem, thấy mối đã đắp lên xác khỉ thành một cái gò lớn. Bố ông cho là một sự kỳ dị. Từ đó mẹ ông thụ thai. Đến 12 tháng thì sinh ra ông. Ông thấp bé xấu xí, người ta cho là giống khỉ. Khi bố ông sắp mất, dặn người nhà đem mai táng ngay chỗ mộ con khỉ, chắc là cũng ngầm hiểu thiên cơ nên mới làm như vậy. Về sau Mạc Đĩnh Chi mất cũng đem mai táng ở phía dưới mộ cha, đến nay vẫn còn.
               Mạc Đĩnh Chi tư chất thông minh. Bấy giờ Hoàng tử Chiêu quốc công mở nhiều trường học. Ông đến thụ nghiệp. Năm 20 tuổi ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn(1304) đời vua Trần Anh Tông. Vua thấy ông người thấp bé xấu xí, không muốn lấy đỗ Trạng nguyên. Ông bèn làm bài phú Ngọc tỉnh liên (Hoa sen ở giếng ngọc) để tự ví mình. Ý nói sen ở dưới giếng tuy thấp nhưng rất quý. Vua xem bài ấy tỉnh ngộ, bèn cho ông đỗ Trạng nguyên. Sau ông trải qua nhiều chức vụ và đi sứ Trung Quốc.
               Khi ông sang sứ, người Trung Quốc đã hẹn ngày cho vào cửa quan. Nhưng vì mưa gió cản trở, nên ông đến không đúng hẹn, người Trung Quốc không cho vào cửa. Ông khẩn khoản nài xin. Người Trung Quốc bèn ra một câu đối đứng trên cửa vứt xuống để ông đối. Câu đối ra rằng:
               Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
               Nghĩa là:
               Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.
               Ông ứng khẩu đối rằng:
               Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
               Nghĩa là:
               Ra đối dễ, đối lại khó, mời tiên sinh đối trước.
               Người Trung Quốc phục ông có tài mẫn tiệp, mở cửa quan cho ông vào.
               Ông đến Yên Kinh, người Nguyên thấy ông thấp bé có ý khinh bỉ. Một hôm tể tướng mời ông vào phủ cùng ngồi nói chuyện. Ông thấy có một bức màn mỏng thêu một con chim vàng, đậu ở trên cành trúc. Ông tưởng là chim sẻ thực, chạy lại bắt. Người Nguyên cười là ngớ ngẩn. Ông bèn xé tan con chim ấy ra. Mọi người đều thấy làm lạ, hỏi ông vì cớ gì mà xé? Ông trả lời rằng:
               -Tôi thấy cổ nhân vẽ “mai tước” chứ chưa thấy vẽ “trúc tước” bao giờ. Nay màn của quan Tể tướng thêu “trúc tước”. Ôi! “Trúc” là quân tử, “Tước” là tiểu nhân. Quan Tể tướng thêu như thế, tức là để tiểu nhân ở trên quân tử. Tôi sợ đạo tiểu nhân ngày một lớn mà đạo quân tử ngày càng tiêu đi, nên tôi phải vì thánh triều mà trừ khử hộ.
               Mọi người đều phục là giỏi hùng biện. Đến khi ông vào châu vua, bấy giờ có một nước ngoài đem dâng quạt, vua Nguyên sai ông và sứ thần Cao Ly vịnh thơ đề quạt. Sứ Cao Ly làm xong trước:
                                    Uốn long trùng trùng, Y Doãn Chu Công.
                                    Vũ tuyết thê thê, Bá Di Thúc Tề.
               Nghĩa là:
                        Khí trời nóng bức thì ra giúp đời như Y Doãn Chu Công.
                        Mưa tuyết lạnh rét, thì đi ẩn thân như Bá Di và Thúc Tề.
               Ông chưa biết làm thế nào, trông quản bút của sữ Cao Ly biết họ làm câu ấy, bèn nhân ý câu mà suy diễn cho dài ra:
               Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô, nhĩ ư tư thời hề,Y Chu cự nho;
               Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu.
               Y! dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù.
               Nghĩa là:
               Vàng đá chảy tan, trời đất làm lò, lúc bấy giờ người là Y Chu cự nho;
               Gió bấc lạnh lẽo, mưa tuyết đầy đường, lúc bấy giờ người là Di Tề chết đói.
               Ôi! Dùng thì ra làm, bỏ thì đi ẩn, chỉ có ta và ngươi được như thế.
               Làm xong ông đệ trình vua Nguyên. Vua khuyên câu chữ “Y” và phong ông làm lưỡng quốc Trạng nguyên.
               Một hôm ông cưỡi lừa đi ở đường, gặp một người Trung Quốc cưỡi ngựa, lừa va chạm vào ngựa. Người Trung Quốc bảo ông rằng:
               Xúc ngã kỵ mã, Đông Di chi nhân giả?, Tây Di chi nhân giả?2
               Nghĩa là:
               Chạm ngựa ta cưỡi, là người Đông Di hay là người Tây Di?
               Ông ứng khẩu đáp lại:
               Át dư thân lư, Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư?3
               Nghĩa là:
               Ngăn lừa ta cưỡi thử hỏi phương Nam mạnh hay phương Bắc mạnh?
               Ông lại thường cùng người Trung Quốc đối đáp. Người Trung Quốc ra câu đối rằng:
               Kỷ dĩ mộc, bôi phi mộc, như hà dĩ kỷ vi bôi 4
               Nghĩa là:
               Kỷ là gỗ, chén không phải là gỗ làm sao lấy kỷ làm chén?
               Ông đối rằng:
               Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, vân hồ dĩ Tăng sư Phật
               Nghĩa là:
               Tăng là người, Phật không phải là người, việc gì lấy tăng thờ Phật? 5
               Người Trung Quốc lại ra câu đối rằng:
               An xuất nữ dĩ thỉ vi gia
               Nghĩa là:
               Chữ “an” bỏ chữ “nữ” ra, lấy chữ “thỉ” vào, làm thành chữ “gia”.
               Ông đối rằng:
               Tù xuất nhân nhập vương thành quốc.
               Nghĩa là:
               Chữ “tù” đem chữ “nhân” ở trong ra, cho chữ “vương” vào thì thành chữ “quốc”.
               Người Trung Quốc phê rằng: “Ngày sau con cháu có người làm vua, nhưng hiềm chữ quốc viết đơn nên hưởng nước không được lâu dài”.
               Người Trung Quốc ra câu đối rằng:
               Nhật hỏa vân yên, bạch trú thiêu tàn ngọc thỏ.
               Nghĩa là:
               Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt tàn thỏ ngọc.
               Ông đối rằng:
               Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn sạ lác kim ô.
               Nghĩa là:
               Mặt trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi quạ vàng 6.
               Người Trung Quốc phê rằng: “Ngày sau con cháu tất có người cướp nước”.
               Người Trung Quốc ra câu đối rằng:
               Lỵ mỵ võng lạng tứ tiểu quỷ
               Nghĩa là:
               Lỵ, mỵ, võng, lạng là bốn quỷ nhỏ 7
               Ông đối rằng:
               Cầm sắt tì bà bát đại vương.
               Nghĩa là:
               Đàn cầm, đàn sắt, đàn tỳ bà  là tám đại vương 8.
               Người Trung Quốc phê rằng: “Ngày sau được làm huyết thực thần” 9.
               Người Trung Quốc ra câu đối rằng:
               Quách khiếu tường đầu đàm Lỗ luận: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri.
               Nghĩa là:
               Chim chào mào kêu ở đầu tường học sách Luận Ngữ : Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, ấy là biết.
               Câu này người Trung Quốc có ý nhạo báng người An Nam nói líu lô như chim chào mào kêu, vì nếu đọc nhanh những chữ “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri” 10 thì nghe ríu rít như chim kêu vậy. Ông bèn lấy những chữ giống tiếng ếch kêu để nhạo người Trung Quốc:
               Oa minh trì thượng đọc trâu thư: Nhạc dữ thiểu lạc nhạc, nhạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?11
               Nghĩa là:
               Ếch kêu ở trên ao đọc sách Mạnh Tử : Cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc thì đằng nào vui hơn?
               Người Trung Quốc ra đối rằng:
               Lạc thủy thần quy đơn ứng triệu, thiên số cửu, địa số cửu, cửu cửu bát thập nhất số, số số hỗn thành tam đại đao, đao hợp Nguyên thủy Thiên tôn, nhất thành hữu cảm.
               Nghĩa là:
               Rùa thần sông Lạc ứng điềm lành, số trời chín, số đất chín, chín chín tám mươi mốt số, số số hỗn thành ba đạo lớn, đạo hợp Nguyên thủy Thiên tôn, nhất thành hữu cảm.
               Ông đối rằng:
               Kỳ sơn minh phượng lưỡng trinh tường, hùng thanh lục, thủy thanh lục, lục lục tam thập lục thanh, thanh thanh hưởng triệt cửu trùng thiên, thiên sinh Gia Tĩnh Hoàng Đế, vạn thọ vô cương.
               Nghĩa là:
               Minh phượng núi Kỳ trinh điềm tốt, tiếng hùng sáu, tiếng thư sáu, sáu sáu ba mươi sáu,tiếng, tiếng thấu suốt chín tầng trời, trời sinh Gia Tĩnh Hoàng Đế, vạn thọ vô cương.
               Ông đối đáp xuất khẩu thành chương không thua một câu nào. Bấy giờ hậu phi Bắc triều chết. Triều đình làm lễ tế, sai ông đọc văn tế. Ông mở văn tế ra, thì chỉ thấy có bốn chữ “nhất”. Ông đọc luôn rằng:     
                        Thanh thiên nhất đóa vân;
                        Hồng lô nhất điểm tuyết;
                        Thượng Uyển nhất chi hoa;
                        Quảng Hàn nhất phiến nguyệt.
                        Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
               Nghĩa là:
                        Trời xanh một đóa mây;
                        Lò đỏ một điểm tuyết;
                        Vườn Thượng Uyển một cành hoa;
                        Cung Quảng Hàn một mảnh trăng.
                        Than ôi! Mây tan, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết.
               Người Trung Quốc rất lấy làm kính phục. Bài văn tế này có chép ở Bắc sử . Có người bảo là của Lý Thái Bạch làm. Nhưng xét kỹ lời văn và ý văn thì giống văn chương của ông, không biết có phải không? Có bài thơ vịnh quạt đích là của ông làm ra, không còn hồ nghi gì nữa. Sách Thuyết linh cho là của Phương Hiếu Nho làm ra, nhưng lấy điều ấy mà suy, thì sách sử bên Tầu chép vị tất đã là phải.
               Người Trung Quốc, người Nguyên rất phục tài ông nhưng xét tướng mạo ông thì không có vẻ gì đáng quý. Họ nhân lúc ông ra nhà xí đại tiện, xem phân thì thấy phân vuông, họ cho là ẩn tướng ở đó, mà rất đáng quý.
               Khi ông về nước, người Nguyên theo sang nước ta xem đất của nhà ông. Ông đưa khách đến xem phần mộ của tổ tiên nhà mình, họ đều bảo không có ngôi nào đẹp. Sau đưa đến mộ bố ông, họ mới tấm tắc khen rằng đó thực là đất phát tích của ông. Ngôi đất ấy rất đẹp, người thường cũng biết là quý cách 12, chỉ hiềm nước không tích tụ, cho nên chỉ có quý mà không có phú.
               Ông làm quan rất thanh liêm, sinh hoạt giản dị. Vua Minh Tông biét rõ tình cảnh của ông, bèn mật sai người đang đêm đem 10 quan tiền đến để ở phía trong cửa nhà ông. Sáng hôm sau ông vào triều, đem việc ấy tâu vua. Vua bảo:
               -Tiền vô chủ, nhà ngươi cứ việc lấy mà tiêu.
               Đại loại tiết tháo ông trong sạch như thế.
               Về sau Thoát Hiên 13 tiên sinh có vịnh ông một bài thơ rằng:
                        Đệ nhất khôi nguyên tảo trí thân,
                        Cư quan bất cải cựu thanh bần.
                        Phiến minh hựu trọng Yên Đài dự,
                        Sứ tiết phương chi quốc hữu nhân.
               Nghĩa là:
                        Đệ nhất khôi nguyên sớm thành danh,
                        Làm quan mà vẫn thanh bần như cũ.
                        Bài minh đề quạt được Yên kinh khen ngợi,
                        Cờ sứ nêu cao như ông, mới biết nước có người giỏi.
               Triều vua Hiến Tông ông làm Nội hành khiển Hữu ty Lang trung, rồi thăng Tả ty Lang trung và làm đến Tả Bộc xạ.
               Bình sinh ông trứ thuật rất nhiều. Nhưng chỉ còn truyền lại có mấy bài văn tán, văn tế, câu đối, 4 bài thơ chép ở trong tập Khởi thời , một bài tạ văn chép ở trong tập Quốc triều biểu chương và một bài bia dựng ở mộ Bùi Mộc Đạc 14, còn thì mất cả.
               Ông tuy được hiển quý, nhưng vẫn giữ được nếp thanh bần, cho nên ông để lại phúc trạch cho con cháu, đời đời là hào hữu ở miền Đông. Con ông là Khản và Trực đều làm đến chức Viên ngoại lang. Cháu ông là Địch, Toại và Viễn đều có thế lực.
               Gặp lúc họ Hồ cướp nước. Các ông Địch, Toại và Viễn cho rằng tổ tiên mình trước thờ họ Trần, nay mình phải vì nước báo thù.
               Bấy giờ nhà Minh sai Trương Phụ đem quân sang nước ta, nói là để diệt họ Hồ, lập con cháu họ Trần. Trương Phụ đóng quân ở bắc ngạn sông Phú Lương. Họ Hồ đem hết nam phụ lão ấu trong nước đi phòng ngự. Quân Minh không biết hư thực thế nào không dám sang sông.
               Anh em ông Địch bèn từ Nam Sách cùng với Phiên phán châu Tam Đái là Đặng Kinh đến đầu hàng người Minh và nói rõ tình hình quân Hồ cho người Minh biết. Quân Minh bèn sang sông tấn công, đánh đâu được đấy và lấy bọn Địch làm hướng đạo.
            Sau bọn Địch cùng với Hạ Hỏa Mục, Vũ Thạch Khanh bắt được Hồ Hán Thương và con là Nhuế ở núi Cao Vọng được công to nhất 15 . Người Minh cho Toại làm Tham chính sứ, Địch là Chỉ huy sứ và Viễn làm Diêm thiết sứ. Anh em đều được quý hiển, và đến khi quân Minh bị thua, về nước cũng không bị nạn.
            Con cháu Toại di cư xuống xã Ma Khê, huyện Thanh Hà. Đến đời thứ ba lại di cư sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương, rồi sinh ra ngụy Thái tổ Đăng Dung, tức là cháu bảy đời của Đĩnh Chi vậy.
            Sau Đăng Dung cướp được nước, truy phong ông làm Huệ Việt Linh Khánh Đại Vương và phu nhân làm Lưỡng quốc Từ chính Công chúa.. Đến nay làng ông vẫn thờ ông làm Phúc thần. Những lời phê bình của người Nguyên ngày trước nay đều thấy ứng nghiệm.
            Họ Mạc lại lấy chỗ ông ở ngày trước trong làng Lũng Động làm điện Sùng Đức. Ở Bắc ngạn sông phía trước điện, đắp một cái đàn lớn làm chỗ bái vị. Các quan triều Mạc ai đi qua đấy cũng phải đến đàn vọng bái. Hiện nay nền điện và đàn đều còn 16. Người ta còn tìm thấy chỗ ông ngồi dạy học ngày trước: một chỗ ở xã Cao Đôi, một chỗ ở chùa Kiều Lâm xã Tống xá, những di tích ấy đến nay vẫn còn.
            Ôi! Học vấn của ông đứng đầu quần nho, danh tiếng của ông lừng lẫy hai nước.. Từ thời Trần đến nay hơn 500 năm, mà nam phụ lão ấu ai cũng biết tên ông. Nói đến sự nghiệp của ông thì rõ ràng như việc ở trước mắt. Đọc đến văn chương của ông thì vẫn còn thấy sống động. Thực là một nhân vật độc đáo trăm đời vậy. Như thế không có lẽ vì cớ con cháu đời sau mà bị ảnh hưởng đến thanh danh. Chỉ giận sử bút lịch triều ghi chép không được tường tận, và các danh nhân ngày trước không chịu viết về ông, để văn chương trước nghiệp của ông không được lưu truyền ở đời.
            Tôi là một kẻ hậu sinh, kiến văn kém cỏi, nay tạm lược thuật đại khái ra đây, mong các đại phương quân tử đính chính.
            Theo sử sách chép, ông sinh vào giờ thân ngày 8 tháng 6 năm Giáp Thân(1284), nhưng nay không căn cứ vào đâu mà khảo cứu được. Hai là trong truyện Quốc âm có nói ông gặp nàng Bảy dẫn đi xem Âm Ty, Truyện ấy cũng hoang đường. Nhưng theo các bậc tiền bối nói thì ông có làm bài văn Quốc âm để ghi chép việc này. Nhưng bài văn ấy đã thất truyền, nên tôi không dám chép việc ấy vào đây.
Ghi chú
            1-sử ký chép là xã Bàng Hà. xét từ chỗ núi đột khởi đi xuống, một dải ven sông ngày trước gọi là xã Bàng Hà, cho nên ngày nay chùa làng Lê Xá gọi là chùa Bàng Hà. Đó là chứng nghiệm.
            2-Câu này ở sách Mạnh Tử.
            3-Câu này ở sách Trung Dung
            4-Chữ “kỷ” là “cây liễu” do chữ mộc là “gỗ’ và chữ “dĩ” là “đã” làm thành. Chữ “bôi” là “chén” do chữ “mộc” là “gỗ” và chữ “phi” là “không” làm thành. Kỷ là gỗ chén không phải là gỗ thì làm sao lại lấy cây kỷ làm chén, như sách Mạnh tử đã nói
            5-Chữ “tăng” là “nhà sư” do chữ “nhân đứng” là “người” và chữ “tằng” là “đã” làm thành. Chữ  “Phật” do chữ “nhân đứng” là “người” và chữ “phất” là “không” làm thành. Tăng là người, Phật không phải là người, việc gì phải lấy tăng thờ phật.
            6-Ngọc thỏ hay thỏ ngọc chỉ mặt trăng. Quạ vàng do dịch chữ “kim ô” chỉ mặt trời.
            7-Cả bốn chữ lỵ, mị, võng, lạng mỗi chữ đều có một chữ “quỷ” thành 4 chữ “quỷ”
            8-Cả bốn chữ cầm, sắt, tì, bà mỗi chữ đều có hai chữ “vương” nên cộng lại thành 8 chữ “vương”.
            9-Huyết thực là lấy máu xúc vật cúng tế, ý nói được hưởng tế lễ của nhà nước.
            10- Những câu này ở sách Luận ngữ.
            11- Những câu này ở sách  Mạnh Tử.
            12-Có chép kỹ ở sách địa lý Hòa Thúc.
            13-Thoát Hiên là tên hiệu của Đặng Minh Khiêm.
            14-Bùi Mộc Đạc: ông này người xã Tri Lai, huyện Võ Tiên. Bia nay vẫn còn.
            15-Việc này được chép tường tận ở sách của Khưu Văn Trang.
            16-Điện ở xã Mã Thảo, thuộc bản xã gần sông cái.
                                                                                     (còn nữa)
2/8/2012
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

THƠ VỀ BIÊN GIỚI,THƠ VỀ BIỂN ĐÔNG

THƠ BIÊN GIỚI,THƠ BIỂN ĐÔNG





THƠ VỀ BIÊN GIỚI,THƠ VỀ BIỂN ĐÔNG

Thời gian gần đây ,vấn đề biên giới  và biển Đông diễn biến phức tạp,khiến mọi người không thể không quan tâm (trong đó có bản thân tôi) .Điều quan tâm ấy được nói lên bằng nhiều cách .Riêng tôi xin được bày tỏ bằng những vần thơ tâm sự sau đây.Xin được mọi người chia sẻ :

1.BÊN KIA,BÊN NÀY
Bên kia là đất Ninh Minh
Bên này Móng cái vốn tình vùng biên
Núi sông vốn vãn nối liền
Sao nhìn thấy cảnh nhãn tiền như xa ?!
Móng Cái  11-12-2011 T.D

2.THƠ BÊN CỘT MỐC
Biên giới là đây – Cột mốc đây !
Đất dày như thế sợ gì lay ?
Lòng người đáng sợ hơn lòng đất
Bởi khó đo lường ; Dễ đổi thay !
Móng Cái 15h00’   14-12-2011 T.D

3.BIỂN ĐÔNG
Biển Đông bao kiếp,bao đời
Không ngừng sóng dựng,không ngơi gió cuồng
Dữ dằn một nỗi yêu thương
Trở trăn một nỗi tơ vương ngàn đời !
Ngày bão vào Hoàng Sa 13-12-2011 T.D

4.GIỮ…
Trường sa nơi ấy cứ vời trông
Trăn trở đêm đêm thổn thức lòng
Anh ở Nhà-giàn* thương nhớ vợ
Em trên châu thổ nhớ thương chồng
Đồng quê tiếp sức cho làng biển
Tuổi trẻ mang mình giữ núi sông
Quyết giữ vuông tròn non nước cũ
giữ chiều tím biếc,giữ hừng đông !
Làng Hóp Mùa Đông Tân Mão 2011 T.D

5.CẢM XÚC NHA-TRANG
Ta đắm mình trong trời , biển Nha Trang
Trong phấp phỏng phía Nhà-giàn* sóng dữ
Trong nỗi nhớ Chế Lan Viên một thuở
Đâu hay Người-Làm-Sử ở trong Hang **
Ta ôm nhau giữa sóng bạc,mây vàng
Như có lỗi với Người-Đang-Cống-Hiến
Đang đối mặt với cuồng phong ,nguy biến
Giữ vuông tròn trời biển để ta yêu !..
.
*Nhà-giàn ĐK1: Nhà gác biển của Hải Quân Nhân Dân VN
**Thơ Chế Lan Viên :”Tôi đến Nha Trang ngắm trời,biển đẹp .
Có hay đâu Hang Pắc-bó gió lùa”.Lúc ấy Bác Hồ đang dịch Lịch sử
Đảng CS Liên-xô tại Pắc-bó

TRUNG QUỐC VÀ BIỂN ĐÔNG

Đường lưỡi bò ở đâu ra? - Kỳ 4: “Đường lưỡi bò” được “sáng tác” ra sao?

TT - Nói về chuyến đi của tướng hải quân Lâm Tuân, lý do mà chính phủ Trung Hoa dân quốc đưa ra là để khảo sát xem tàn quân Nhật còn lẩn khuất đâu đó trên các đảo ở biển Đông hay không.

Song, chính luận điệu này đã cho thấy sự lật lọng của họ, bởi tại thời điểm mà đoàn đội Lâm Tuân xuất bến ra khơi, chính phủ Trung Hoa dân quốc đã hết quyền giải giáp quân Nhật đến những tám tháng. Bằng chứng được ghi rõ trong hiệp ước Trùng Khánh mà họ đã ký với chính phủ thực dân Pháp hồi tháng 2-1946.

>> Manh nha xâm chiếm Hoàng Sa - Trường Sa
>> Lâm Tuân là ai?

Bản đồ “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực (Trung Hoa dân quốc) biên soạn năm 1947 sau chuyến đi của Lâm Tuân. Bản đồ được vẽ và viết bằng tay. Đây là tiền thân của cái gọi là “đường chữ U” hiện nay - Ảnh: hudong.cn

Điều này khẳng định việc cưỡng chiếm bất hợp pháp của họ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa năm 1946. Và điều nghiêm trọng hơn, “đường lưỡi bò” đã ra đời từ đây, để rồi liếm trọn hơn 80% biển Đông.

“Trại sáng tác đường lưỡi bò”


Một số học giả Trung Quốc đại lục khẳng định chuyến đi từ đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đến đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam kéo dài hai tháng. Khi trở về Quảng Châu, tổng chỉ huy Lâm Tuân cùng một số học giả, nhà địa lý và chuyên gia sử học cùng ngồi lại để phác họa, vẽ ra cái gọi là bản đồ “11 đoạn” rồi giao cho Sở Phương vực thuộc bộ nội chính của chính quyền Trung Hoa dân quốc in ấn vào tháng 10-1947.

Tuy nhiên, tư liệu do tuần báo Phượng Hoàng (Hong Kong) trong cuộc gặp gỡ những người liên quan đến chuyến đi của Lâm Tuân đang sống ở Đài Loan lại cho biết người vẽ bản đồ “11 đoạn” không phải Lâm Tuân mà chính là giám đốc Sở Phương vực Phó Giác Kim. Ông này đã căn cứ trên những tư liệu sơ sài của Lâm Tuân, Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh để vẽ bản đồ trên. Tư liệu trên chỉ kể sơ sài rằng Trịnh Tư Duyệt sau khi trở về lục địa đã cùng với Phó Giác Kim chỉnh lý tư liệu thu thập được trên chuyến hành trình, sau đó trình lên viện hành chính thẩm định để chuẩn bị cho vẽ và in ấn.

Trong mớ tài liệu trình thẩm định này có bản đồ vị trí các đảo ở biển Đông do Bộ nội chính vẽ, bản đồ quần đảo Hoàng Sa, cụm đảo Đông Sa, quần đảo Trường Sa, đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình cùng những tư liệu về tên gọi mới và cũ của các đảo ở biển Đông. Cách mô tả của truyền thông Trung Quốc và Hong Kong nhằm tạo cảm giác cho người đọc rằng Trung Quốc đã rất chặt chẽ trong quá trình vẽ bản đồ biển Đông từ lúc này, song trên thực tế ngoài tấm bản đồ 11 đoạn với những ghi chú bằng nét chữ viết tay thì không ai thấy được những bản bút lục thật sự của những tư liệu của “bậc tiền bối” Trung Quốc để lại cho con cháu họ sau này.

Trong cuộc họp buổi chiều 14-4-1947, Bộ nội chính Trung Hoa dân quốc đã triệu tập hội nghị xác định phạm vi và chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hội nghị quy tụ những quan chức cấp cao của Trung Hoa dân quốc như Phó Giác Kim, tổng tư lệnh Lâm Tuân, đại diện bộ ngoại giao Trần Trạch Tương, đại diện bộ quốc phòng Mã Định Ba và Vương Chính Tự thuộc bộ nội chính. Các thành phần trên đã quyết định lấy vĩ tuyến 4 độ vĩ bắc, với chót điểm là bãi đá ngầm James ở gần Malaysia làm cực nam của bản đồ “đường 11 đoạn”. Đây chính là tiền thân của “đường lưỡi bò” ngày nay, cái mà Trung Quốc gọi là “đường chữ U” hay “đường 9 đoạn”.

Từ “11 đoạn” đến “9 đoạn”

Đến tháng 2-1948, Sở Phương vực đã gộp bản đồ biển Đông này vào “bản đồ khu vực hành chính của Trung Hoa dân quốc” và cho phát hành chính thức chỉ ở Trung Quốc. Chuyện phát hành bản đồ này chỉ diễn ra ở Trung Quốc thời bấy giờ, không có một công bố nào ở quốc tế cũng như khu vực châu Á nên không một quốc gia nào biết được Trung Quốc đã có một bản đồ về biển Đông “11 đoạn” như thế.

Bản đồ “11 đoạn” xuất hiện trong giai đoạn 1947-1949, khi Trung Quốc rơi vào nội chiến giữa Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu với quân đội do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Sau ba chiến dịch Liêu Ninh - Thẩm Dương, Hoài Hải và Bình Tân, chỉ trong hai năm 1947-1948, hồng quân Trung Quốc đã bẻ gãy được xương sống của quân đội Quốc Dân đảng khi tiêu diệt 144 sư đoàn quân chính quy và 29 sư đoàn không chính quy của Quốc Dân đảng. Cho đến đầu năm 1949, chính quyền Quốc Dân đảng dần rút khỏi Trung Quốc và tháo chạy về Đài Loan.

Như vậy tấm bản đồ này ra đời chưa được bao lâu đã phải chịu số phận chết yểu khi chính quyền tạo dựng ra nó phải tháo chạy thoát thân khỏi Trung Quốc. Tấm bản đồ phút chốc đã biến thành tờ giấy lộn vô nghĩa khi mà trên trường quốc tế chẳng ai thừa nhận nó.

Thêm vào đó, tính vô hiệu lực của bản đồ này càng được thể hiện rõ khi ngày 4-12-1950, bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc lúc này là Chu Ân Lai đã tuyên bố tán thành bản tuyên ngôn Cairo năm 1943 được ba bên là Anh, Mỹ và Trung Quốc thống nhất, trong đó Trung Hoa dân quốc không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai văn kiện này đều là văn kiện có chứng thực của quốc tế.

Tuy nhiên, lòng tham và mưu đồ “liếm” trọn biển Đông đã được “kế thừa”.

Theo Thời báo Hoàn Cầu, sau khi đuổi Quốc Dân đảng ra khỏi đại lục, năm 1953 Chính phủ CHND Trung Hoa đã phê duyệt cắt bỏ hai đoạn ở vịnh Bắc bộ của Việt Nam để biến “đường 11 đoạn” thành “đường 9 đoạn” nhưng không nêu rõ lý do. “Đường 9 đoạn” này cơ bản giống với “đường 11 đoạn” của Trung Hoa dân quốc, chỉ có điều là nó tham lam hơn, “liếm” sát Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn.

Tờ báo này thừa nhận Chính phủ Trung Quốc từ trước tới nay chưa hề “giải thích” hay nói rõ cho cộng đồng quốc tế về sự tồn tại của “đường 9 đoạn”. Điều này đồng nghĩa với việc Bắc Kinh đã thừa nhận tính vô pháp lý của cái gọi là “đường lưỡi bò” trên trường quốc tế. Thế mà giờ đây họ cứ đem cái “sản phẩm  tượng trưng” này ra để làm bằng chứng “thuyết phục” về yêu sách chủ quyền vô lý của họ ở biển Đông.

MỸ LOAN




Bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc

Ngày 26-11-1943, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ký một bản tuyên cáo chung (thường được gọi là Tuyên cáo Cairo) trong đó có đoạn viết:

“Đối tượng của các nước này (tức là của ba nước Đồng minh) là phải tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng chiếm từ khi có Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã cướp của người Trung Hoa, như là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, phải được hoàn trả Trung Hoa dân quốc. Nhật Bản cũng sẽ phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác đã chiếm được bằng vũ lực và lòng tham”.

Đọc đoạn trích dẫn trên chúng ta thấy Tuyên cáo Cairo có hai quy định quan trọng:

- Một là, chỉ có các đất Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc mà thôi.

- Hai là, các lãnh thổ khác mà Nhật Bản chiếm được thì bản tuyên cáo này chỉ quy định việc trục xuất Nhật Bản, chứ không hề nói tới việc hoàn trả chúng cho Trung Quốc.

Như vậy, chúng ta thấy rằng cho đến cuối năm 1943, Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã không đề cập đến những quần đảo này trong bản tuyên bố chung cuộc. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì không có lý gì họ Tưởng chỉ đòi hoàn trả có Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ mà lại không đòi luôn Hoàng Sa và Trường Sa.

QUAN HỆ VIỆT TRUNG HIỆN NAY

Thứ Năm, 02/08/2012, 08:42 (GMT+7)
Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ:
“Trách nhiệm lịch sử đang nặng vai dân tộc mình”
TT - “Vào những lúc này, trách nhiệm lịch sử đang đè nặng lên vai dân tộc mình, trong đó có đông đảo người trẻ là con dân Việt Nam trong và ngoài nước”. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc NGUYỄN VĂN THƠ bộc bạch với Tuổi Trẻ.
Ngay tại nơi ông đang làm việc tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc).
Đại sứ Nguyễn Văn Thơ - Ảnh: quốc thanh

Đại sứ nhấn mạnh: Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được những nhận thức chung quan trọng, trong đó có việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện trên cơ sở phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”. Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Trung Quốc là ưu tiên trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là chính sách nhất quán, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
* Thưa đại sứ, cho đến thời điểm này những diễn biến từ phía Trung Quốc trên biển Đông chưa có dấu hiệu nào cho thấy sẽ “hạ nhiệt”. Và trong lòng người dân mỗi nước, mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt - Trung trong mấy chục năm qua có trở nên nồng thắm hơn, hay “lạnh” dần đi... là phụ thuộc rất lớn vào diễn biến đó. Đại sứ có thể chia sẻ đôi điều về công tác ngoại giao sẽ như thế nào để có thể thích ứng với những diễn biến như vậy?
- Cần nhìn nhận khách quan rằng quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc trong những năm qua có những bước phát triển tích cực. Hai bên đã giải quyết ổn thỏa một số tồn tại do lịch sử để lại như vấn đề vịnh Bắc bộ và biên giới trên bộ, song còn một vấn đề là biển Đông rất phức tạp và nhạy cảm. Đây là một tồn tại lịch sử khách quan, chúng ta không thể lẩn tránh mà phải đối diện với nó và tìm phương cách từng bước giải quyết.
Về vấn đề này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được những nhận thức chung rất quan trọng, trong đó có thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 10-2011. Trên cơ sở đó, hai bên đã và sẽ tiếp tục tiến hành các vòng đàm phán về phân định ranh giới các khu vực thật sự tranh chấp liên quan đến hai bên và hợp tác cùng phát triển. Song, đây là một quá trình rất phức tạp và khó khăn.
Trách nhiệm của cơ quan ngoại giao nước ta tại Trung Quốc là làm sao góp phần duy trì và thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước; góp phần thúc đẩy thực hiện nghiêm chỉnh các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; giải quyết các vấn đề do lịch sử để lại giữa hai nước, góp phần tạo dựng môi trường quốc tế xung quanh hòa bình, thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế và bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.
* Có nhiều bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng phía Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố hay hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Giải pháp nào để chính người dân Trung Quốc, trên thế giới hiểu và ủng hộ lẽ phải không thể chối cãi này?
- Chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Đồng thời, chúng ta cũng luôn nhất quán là các tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC).
Tôi hi vọng rằng những tiếng nói tiêu cực, không có lợi cho quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, kích động hận thù dân tộc trên một số báo và trang mạng của Trung Quốc không phải là tiếng nói chính thống của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Đảng và chính phủ hai nước đã có những thỏa thuận liên quan đến công tác tuyên truyền về quan hệ hai nước Việt - Trung.
Việt Nam chúng ta luôn mong muốn hai bên có nhiều tiếng nói hữu nghị hơn, tích cực hơn, góp phần giải quyết những tranh chấp, bất đồng bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, góp phần đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định và lành mạnh. Tôi đã nói với phía bạn Trung Quốc về điều đó và khẳng định thông tin không đúng sự thật hoặc kích động chỉ làm phức tạp thêm tình hình.
Đương nhiên, trách nhiệm này không chỉ của những người làm công tác ngoại giao, mà mỗi người dân hãy góp phần vào đây. Báo chí của Việt Nam cũng cần góp sức tích cực hơn làm sao để nhân dân Trung Quốc hiểu khách quan hơn và thế giới ủng hộ lẽ phải của Việt Nam.
* Gần đây ở biển Đông đã xảy ra những hành động rất cụ thể như Trung Quốc ngang nhiên mời thầu các lô dầu trên vùng biển Việt Nam, liên tục bắt bớ ngư dân Việt Nam đánh cá trên các ngư trường truyền thống... Thưa đại sứ, với những hành động này hay những hành động tương tự trong tương lai có thể tiếp tục xảy ra từ phía Trung Quốc, biện pháp tiếp theo nào phải được tính đến?
- Chúng ta đã bày tỏ lập trường rất rõ ràng về những hành động đơn phương vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam gần đây. Tôi muốn khẳng định rằng đường lối đối ngoại của Việt Nam là nhất quán và kiên định trong việc giải quyết những vấn đề trên biển Đông thông qua biện pháp hòa bình và trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Trong lúc này, chúng ta lại cần phải giương cao hơn nữa ngọn cờ chính nghĩa, hòa bình và hợp tác, vì đây là xu hướng lớn của khu vực và thế giới mà không ai có thể đi ngược lại xu hướng đó. Việc này chúng ta phải kiên trì, cái gì đúng phải bảo vệ đến cùng. Bằng những bài viết khách quan, trung thực, có lý có tình, báo chí cũng là một kênh thông tin rất quan trọng để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải.
* Thưa đại sứ, trong tình hình này ông có gặp phải áp lực gì không?
- Tất nhiên là có nhiều áp lực. Yêu cầu đặt ra là làm sao thực hiện được đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta một cách linh hoạt, sáng tạo, làm sao duy trì được quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đúng là không đơn giản chút nào, song từ xưa ông cha ta có cách ứng xử với bạn láng giềng là phải biết “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Trong khó khăn sẽ ló ra nhiều sáng kiến tốt. Và tôi xin nhắc lại, tôi vẫn rất kỳ vọng vào vai trò của giới trẻ trong việc góp phần tìm ra các biện pháp giải quyết các vấn đề do lịch sử để lại đối với Trung Quốc, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
QUỐC THANH (thực hiện từ Bắc Kinh)

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

TRUNG QUỐC VÀ BIỂN ĐÔNG

Thứ Tư, 01/08/2012 - 15:25

Cái giá của xung đột vũ trang

Trung Quốc đang chơi một nước cờ mà tự đẩy mình vào thế "lưỡng bại câu thương". Vấn đề là liệu các nước trong khu vực có đủ bình tĩnh để kiềm chế, không tự đẩy mình vào xung đột?


Việc Trung Quốc tính toán đến khả năng vũ trang cho hơn 100000 ngư dân tại tỉnh Hải Nam theo đề xuất của Hạ Kiến Bân - Chủ tịch Tập đoàn quốc doanh Ngư nghiệp Bảo Sa tại tỉnh Hải Nam nhằm biến lực lượng ngư dân này thành một "lực lượng quân sự mạnh hơn tất cả các nước khác ở biển Đông gộp lại" đã cho thấy nguy cơ căng thẳng tại biển Đông đang leo thang.

Trong một bài viết mới đây đăng trên  Foreign Policy, tác giả Jim Holmes đã ví von đây là "thời khắc vũ trang" của Trung Quốc trỗi dậy. Một lần nữa, mọi người lại tiếp tục lo lắng rằng liệu những hành động của Trung Quốc đã lên đến đỉnh điểm?

Trước đây Trung Quốc chỉ sử dụng tàu hải giám, ngư chính để bắt bớ, đuổi tàu cá của các nước khác. Nhưng sau đó, việc Trung Quốc sử dụng các tàu hải giám, ngư chính,... hỗ trợ các tàu cá để chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines vào tháng 4 vừa qua đã chứng minh cho sự gia tăng của các hành động gặm nhấm chủ quyền của Bắc Kinh. Mọi chuyện đã không dừng lại như trước đây, khi sự việc Scarborough chưa lắng xuống, Trung Quốc lại định sử dụng cách tương tự một lần nữa khi đưa 30 tàu cá cùng 4 tàu hộ tống đến đánh bắt ở vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
 Tàu khu trục Type-052B của Trung Quốc.
Tàu khu trục Type-052B của Trung Quốc.

Điều dễ nhận thấy là các tàu hải giám và ngư chính đang được sử dụng cho các mục đích quân sự ngày càng rõ ràng, nhằm tăng sự hiện diện và kiểm soát của Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp, đồng thời ngăn chặn sự hiện diện chủ quyền của các quốc gia khác trong khu vực.

Hơn nữa, các hành động quân sự hóa trên biển Đông và chèn ép các nước láng giềng của Trung Quốc đã không còn dừng lại ở các đơn vị dân sự như tàu cá hay bán quân sự như hải giám, ngư chính.

Sự xuất hiện của các tàu chiến hiện đại trên biển Đông không chỉ là kết quả tất yếu của quá trình hiện đại hóa hải quân và không quân của nước này mà còn thể hiện sự hung hăng và liều lĩnh ngày càng tăng của tham vọng bá quyền nước lớn. Như việc Trung Quốc thông báo địa bàn hoạt động của Varyag -  tàu sân bay đầu tiên của nước này sẽ là biển Đông vào tháng 8/2012, hay việc Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc - phụ trách tác chiến tại biển Đông được tăng cường tàu hộ vệ tên lửa mới nhất vào 9/7 hay sự kiện một tàu khu trục của TrungQuốc mắc cạn tại vùng Đặc quyền kinh tế của Philippines vào 11/7...

Tất cả các hành động trên đều cho thấy một điều rằng Trung Quốc đang rất "rốt ráo" tăng cường hiện diện quân sự trên biển Đông và nước này chắc chắc sẽ càng ngang ngược hơn nữa với các hành động xác quyết chủ quyền trong tương lai.
Chạy đua vũ trang?

Tuy nhiên, chính điều này đã đẩy các nước trong khu vực vào một cuộc chạy đua vũ trang và hiện đại hóa quân đội. Theo IHS Jane's, các nước Đông Nam Á cùng nhau đã tăng 13,5% chi tiêu quốc phòng trong năm 2011, lên 24,5 tỷ USD và dự đoán sẽ tăng lên đến 40 tỷ USD vào năm 2016.

Sự gia tăng chi phí quân sự chủ yếu là của các quốc gia biển ở Đông Nam Á. Philippines cũng đã tăng chi phí quân sự lên gần gấp đôi vào 2011 và mua lại một tàu tuần tra lớp Hamilton của Mỹ, nước này cũng đã tuyên bố sẽ đấu thầu mua thêm các vũ khí mới, bao gồm cả máy bay chiến đấu, tàu tấn công nhanh, radar,... vào tháng 8/2012.

Trước bối cảnh các quốc gia khu vực gia tăng sức mạnh quân sự, Mỹ cũng không đứng ngoài cuộc sau khi tuyên bố trọng tâm đối ngoại của Mỹ trong tương lai sẽ là khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong năm 2012, Mỹ đã nhanh chóng đẩy mạnh chính sách "xoay trục" với việc tái bố trí và tái cơ cấu lực lượng quân sự ở Thái Bình Dương. Theo đó, Mỹ sẽ bố trí 60% tàu chiến ở Thái Bình Dương, bao gồm 6 tàu sân bay và đặc biệt là sự tăng cường của các loại máy bay và tàu chiến hiện đại nhất.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nhất của chiến lược "xoay trục" của Mỹ lại nằm ở việc tái cơ cấu các cơ cấu quân sự Mỹ và triển khai quân sự theo kiểu luân chuyển qua các cảng khác nhau trong khu vực, nhằm tăng cường sự hiện diện quân sự và đảm bảo "khả năng kiểm soát vùng biển trong khu vực tại bất cứ nơi nào nếu cần thiết".

Rõ ràng việc gia tăng quá lớn lực lượng quân sự và sự hiện diện của các quốc gia trên biển Đông cũng sẽ dẫn đến kết quả tất yếu là mật độ tàu bè trên biển Đông gia tăng với sự xuất hiện hỗn hợp của các tàu dân sự, bán quân sự và quân sự. Tỉ lệ xảy ra va chạm giữa các bên cũng theo đó tăng lên và khó có thể kiểm soát do "thiếu các lực lượng hàng hải có kinh nghiệm, có ít hoặc không hiểu biết lẫn nhau về quản lý các sự cố hàng hải", như Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu Lowy - Micheal Wesley lo ngại.

Nếu va chạm xảy ra thì chắc chắn sẽ biến thành các cuộc xung đột cục bộ giữa tàu chiến các nước, và các tranh chấp này có thể sẽ ảnh hưởng tới toàn cầu.

Từ đó, có thể thấy rằng, việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông là "lợi bất cập hại". Mặc dù Trung Quốc có được sức mạnh răn đe các nước Đông Nam Á nhỏ yếu, có thể âm thầm gặm nhấm chủ quyền của các quốc gia trong khu vực và có thêm một con bài trên bài đàm phán. Tuy nhiên, hậu quả của chiến lược này là sự phản đối của quốc tế, sự mất lòng tin của các quốc gia trong khu vực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín và hình ảnh "trỗi dậy hòa bình" mà Trung Quốc đã xây dựng trong hai thập kỉ qua.

Đặc biệt là việc Trung Quốc sử dụng các tàu bán quân sự để thực hiện các hành động xác quyết chủ quyền của mình, đây có thể coi là một chiến lược khôn ngoan, tuy nhiên, nó cũng là con dao hai lưỡi vì các lực lượng bán quân sự như hải giám, ngư chính,... do nhiều cơ quan khác nhau quản lý, thiếu đồng nhất trong hoạt động và khó kiểm soát hiệu quả, do đó, nguy cơ xung đột là không thể tránh khỏi và chắc chắn Mỹ sẽ có cơ hội để can thiệp một cách chính danh.

Thậm chí nếu không có xung đột nhưng việc Trung Quốc duy trì các hành động gây hấn quá lộ liễu và ngang ngược cũng có thể biến thành "cơ hội" để Mỹ can thiệp sâu hơn vào biển Đông. Lúc đó không chỉ là giấc mộng bá chủ, mong muốn biến biển Đông thành "ao nhà" tiêu tan mà cả sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực cũng sẽ bị kiềm tỏa.

Trung Quốc đang chơi một nước cờ mà tự đẩy mình vào thế "lưỡng bại câu thương". Vấn đề là liệu các nước trong khu vực có đủ bình tĩnh để kiềm chế, không tự đẩy mình vào xung đột? Rõ ràng, ngược lại với Trung Quốc, các nước khu vực đang mong muốn một quang cảnh trời yên mây tạnh.

Theo Nguyễn Thế Phương
Vietnamnet